'Nợ em ngàn vạn yêu thương'

Từ những lá thư, cuốn nhật ký của các liệt sĩ và hơn nửa thế kỷ chờ đợi của những người vợ, hòa bình hôm nay còn được đổi bằng cả tấm lòng thủy chung, son sắt nơi hậu phương.

Mỗi độ tháng 7 về, nhân dân cả nước lại hướng lòng tri ân về Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Cùng với sự hy sinh của các anh hùng hy sinh vì Tổ quốc, còn đó một món nợ vô giá đối với hậu phương, những người vợ, người yêu của liệt sĩ. Họ là những người đã dành trọn thanh xuân để ngóng đợi một người không bao giờ trở về.

Không đòi hỏi danh hiệu hay sự tri ân, họ lặng lẽ giữ trọn lời thề. Qua các cuộc kháng chiến cho đến thời bình, họ vẫn kiên cường gánh vác trách nhiệm, để người yêu, người chồng của mình cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và giữ vững chủ quyền biên cương Tổ quốc.

Thiếu tướng Vũ Văn Điền và Thiếu tướng Tạ Văn Đẹp trao bức chân dung liệt sĩ Huỳnh Văn Quên đã được phục dựng cho bà Nguyễn Thị Lệ và gia đình liệt sĩ.

Thiếu tướng Vũ Văn Điền và Thiếu tướng Tạ Văn Đẹp trao bức chân dung liệt sĩ Huỳnh Văn Quên đã được phục dựng cho bà Nguyễn Thị Lệ và gia đình liệt sĩ.

Gần 60 năm cho một lời hẹn

Đầu tháng 7 năm nay, tại công viên Lê Thị Riêng (TP. Hồ Chí Minh), lực lượng tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh đã tìm thấy hài cốt và di vật của nhiều liệt sĩ, trong đó có liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.

Bên cạnh gia đình, người thân, người phụ nữ lặng lẽ đợi tin hài cốt liệt sĩ Huỳnh Văn Quên trở về suốt gần sáu mươi năm qua chính là bà Nguyễn Thị Lệ, năm nay đã ngoài tám mươi. Gần sáu mươi năm trước, hai người từng hẹn ước “thắng trận này anh về cưới em”. Bà cũng hứa với ông: “Hứa với ai, hứa một người thôi, dù chết hay sống cùng một người”.

Lời hẹn của ông không bao giờ thành hiện thực, nhưng bà đã dành trọn một đời để thực hiện lời hứa ấy. Trước tấm lòng đó, gia đình liệt sĩ Huỳnh Văn Quên gọi bà là “chị Hai”, trao cho bà chiếc nhẫn, đôi bông tai làm kỷ vật, dành cho bà một vị trí không thể thay thế trong gia đình.

Không có một tờ giấy nào xác nhận cuộc hôn nhân, nhưng cả cuộc đời bà là bằng chứng thuyết phục nhất cho tình nghĩa vợ chồng. Ngày 18/7 vừa qua, sau gần sáu thập kỷ chờ đợi, bà chính thức được công nhận là vợ liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, một sự công nhận thấm đẫm cả tình và lý.

Tối 23/7, tại cầu truyền hình “Tìm lại tên Anh” được truyền hình trực tiếp từ điểm cầu Nhà hát HTV kết nối đến điểm cầu Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng (TP. Hồ Chí Minh), Thiếu tướng Vũ Văn Điền, Tư lệnh Bộ Tư lệnh TP. Hồ Chí Minh và Thiếu tướng Tạ Văn Đẹp, Phó Giám đốc Công an TP. Hồ Chí Minh, đã trao bức chân dung liệt sĩ Huỳnh Văn Quên được phục dựng cho bà Nguyễn Thị Lệ và gia đình liệt sĩ. Sau bao nhiêu năm mới được nhìn rõ gương mặt người thương, bà Lệ không giấu nổi niềm xúc động.

Nhiều bình luận xúc động trên mạng xã hội dành cho bà Nguyễn Thị Lệ và chương trình “Tìm lại tên Anh”. Ảnh chụp từ màn hình.

Nhiều bình luận xúc động trên mạng xã hội dành cho bà Nguyễn Thị Lệ và chương trình “Tìm lại tên Anh”. Ảnh chụp từ màn hình.

Trên trang mạng xã hội đăng tải chương trình “Tìm lại tên Anh”, bạn Lê Hường bày tỏ: “Tấm lòng thủy chung, son sắc, thủy chung của bà là tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo”. Bạn Nguyễn Liên viết: “Chắc không có người thứ hai làm được như bà, người phụ nữ quá tuyệt vời, chung thủy sắc son”.

Câu chuyện của bà Nguyễn Thị Lệ là một trong hàng trăm nghìn số phận người phụ nữ Việt Nam trong chiến tranh đã phải hy sinh tình yêu riêng để người chồng, người yêu làm trọn trách nhiệm vì vận mệnh chung của đất nước. Họ đã chọn giữ trọn chữ tình dù người mình yêu, người chồng đã hóa thành tên trên bia đá.

Điều xúc động hơn cả là trong hành trình “đi tìm anh suốt chiều dài đất nước”, vẫn còn rất nhiều những người vợ vẫn mòn mỏi chờ tin. Đơn cử là trường hợp chàng thanh niên Trương Quang Kỳ (Hà Tĩnh), năm 1968, anh tình nguyện viết đơn lên đường nhập ngũ, để lại người vợ trẻ Nguyễn Thị Hường cùng ba con nhỏ, con út khi ấy mới tròn chín tháng tuổi.

Đến năm 1969, gia đình nhận giấy báo tử, liệt sĩ Trương Quang Kỳ đã anh dũng hy sinh tại chiến trường phía Nam. Gần sáu mươi năm trôi qua, hài cốt của liệt sĩ Trương Quang Kỳ vẫn chưa được tìm thấy.

Trong đợt thu nhận mẫu ADN gần đây tại phường Thành Sen (tỉnh Hà Tĩnh), gia đình mới có thêm hy vọng thực hiện được điều mà bà Nguyễn Thị Hường, vợ liệt sĩ Trương Quang Kỳ mong mỏi suốt cả cuộc đời: "Đón chồng trở về quê hương".

“Tôi chỉ mong được đón cha trở về quê hương, được một lần ôm lấy hài cốt của cha vào lòng”, ông Trương Quang Chiến (sinh năm 1967, trú ở phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh), người con trai út của bà, chia sẻ thay cho nỗi lòng của mẹ.

Tỉnh Hà Tĩnh hiện có 26.656 liệt sĩ, trong đó 12.552 người chưa xác định được thông tin phần mộ. Với nhiều người vợ ở đó, sự chờ đợi kéo dài từ những đêm nhớ mong sang hành trình đi tìm, "trả lại tên cho các anh" và đưa các anh trở về.

Cuốn nhật ký trở thành điểm tựa cho người ở lại

Người đi, đi mãi không về, nhưng những kỷ vật của họ để lại, đã giúp những người vợ tảo tần đứng dậy sau biến cố. Nữ Thượng tá Đặng Thị Bích Trang, công tác tại Báo Quân đội nhân dân, vợ của liệt sĩ phi công Trần Thanh Nghị (Sư đoàn Không quân 371, Quân chủng Phòng không - Không quân, Bộ Quốc phòng) là một trong những trường hợp như thế.

Năm 2009, phi công Trần Thanh Nghị hy sinh trong một chuyến bay huấn luyện chiến đấu, khi Thượng tá Đặng Thị Bích Trang đang mang thai con trai thứ hai. Chia sẻ trên sóng truyền hình trực tiếp của Đài Truyền hình Việt Nam, Thượng tá Đặng Thị Bích Trang xúc động cho biết, con trai thứ hai của vợ chồng chị chào đời vào ngày 27/7/2009, sau khi chồng hy sinh gần 2 tháng.

Trong những lúc trầm cảm vì sự ra đi đột ngột của chồng, Thượng tá Đặng Thị Bích Trang đã tìm lại những ký ức và lần giở cuốn nhật ký chồng viết từ năm 1999, trong đó có đoạn kể về chuyến bay đầu tiên trong đời phi công của anh.

“Đúng 10 giờ 5 phút ngày mùng 5/3, lần đầu tiên trong đời tôi được bước lên ngồi vào buồng lái máy bay và cùng nó bay lên bầu trời cao vợi. Chuyến bay đầu tiên trong đời mình, trong đời học viên, nó để lại cho tôi một cảm giác rất khó tả. Một chuyến bay chỉ có 30 phút nhưng cũng đủ để tôi hiểu rằng điều khiển một cỗ máy lên trời không phải là điều dễ dàng”, (trích nhật ký của liệt sĩ phi công Trần Thanh Nghị).

Những dòng chữ giản dị ấy và những trang nhật ký mà liệt sĩ, phi công Trần Thanh Nghị để lại, đã trở thành điểm tựa giúp Thượng tá Đặng Thị Bích Trang vượt qua giai đoạn khó khăn nhất, để nuôi hai con khôn lớn.

Thượng tá Đặng Thị Bích Trang, vợ của liệt sĩ phi công Trần Thanh Nghị đọc lại những dòng nhật ký của chồng.

Thượng tá Đặng Thị Bích Trang, vợ của liệt sĩ phi công Trần Thanh Nghị đọc lại những dòng nhật ký của chồng.

Đằng sau mỗi con số là một cuộc đời

Theo thống kê của Bộ Nội vụ đến 23/7, cả nước có 9,2 triệu người có công, trong đó có hơn 1,2 triệu liệt sĩ và gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Hiện, vẫn còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và 230.000 phần mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính.

Đằng sau những con số là hàng trăm nghìn người vợ, người mẹ, người yêu của các anh hùng liệt sĩ đã một mình đi qua phần đời còn lại. Có người được công nhận vợ liệt sĩ ngay khi tin dữ báo về. Nhưng cũng có những trường hợp như bà Nguyễn Thị Lệ, phải chờ gần sáu mươi năm để một tờ giấy chính thức gọi tên mối quan hệ mà bà đã âm thầm gìn giữ cả một đời thanh xuân.

Việc công nhận có khi đến chậm, nhưng điều đáng quý hơn cả là những người phụ nữ ấy chưa từng đặt điều kiện cho lòng thủy chung của mình. Họ chờ đợi với một tấm lòng thủy chung son sắt, giữ trọn lời hẹn ước đã trao.

Là người cầm bút, mỗi lần chạm vào những câu chuyện như thế, tôi luôn tự hỏi: Liệu ngôn từ có đủ sức nặng để diễn tả một đời chờ đợi hay không? Mỗi một bài báo, mỗi một thước phim hay mỗi một tấm bằng Tổ quốc ghi công đều chỉ là những cách ghi nhận rất nhỏ so với những gì mà các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, những người vợ liệt sĩ, người thương của các anh đã âm thầm hy sinh.

Đất nước hôm nay có thể trả ơn bằng chính sách, bằng những chuyến đi tìm hài cốt liệt sĩ hay bằng việc công nhận danh hiệu, dựng bia, xây nhà tình nghĩa. Nhưng có một "khoản nợ" khác: nợ về sự thấu hiểu, về ký ức, về sự chờ đợi khó có thể bù đắp bằng vật chất. Điều chúng ta có thể làm là kể lại, để những câu chuyện về các anh hùng liệt sĩ và những tấm lòng thủy chung son sắt được gìn giữ, truyền lại cho các thế hệ sau.

Ngày 27/7 năm nay, khi thắp một nén hương trước phần mộ liệt sĩ hay lặng nhìn một bức thư thời chiến trong bảo tàng, có lẽ mỗi người trong chúng ta sẽ tự hỏi mình đã làm gì để xứng đáng với sự hy sinh ấy. Bởi hòa bình mà chúng ta đang sống được đánh đổi bằng xương máu của cha anh và bằng cả một đời chờ đợi của biết bao thanh xuân người phụ nữ.

“Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ" hiện đang bước vào giai đoạn cao điểm, các lực lượng của Ban Chỉ đạo 515 các tỉnh, thành vẫn đang ngày đêm tích cực chỉ đạo tìm kiếm các hài cốt liệt sĩ để giúp thêm nhiều gia đình được đón các anh trở về quê hương. Đây là hoạt động có ý nghĩa chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc, hướng tới dịp kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027); thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc Việt Nam. Đồng thời cũng là trách nhiệm, tình cảm, lòng biết ơn vô hạn của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân đối với những người con đã hiến dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân.

"Nợ em ngàn vạn yêu thương" là nỗi lòng của những người anh hùng liệt sĩ gửi lại người vợ nơi hậu phương. Đó cũng là món nợ ân tình mà thế hệ hôm nay không bao giờ trả hết. Điều chúng ta có thể làm là gìn giữ và kể lại câu chuyện của họ bằng sự trân trọng và lòng biết ơn chân thành.

Nguyên Khánh

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/no-em-ngan-van-yeu-thuong-466787.html