Lễ thiêng của dân tộc Pu Péo ở Phố Bảng

Trong dã sử truyền lại và trong các bài cúng của các dân tộc Hoa, Cờ Lao, Mông... trên cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Tuyên Quang, đều cho biết dân tộc Pu Péo hiện diện ở vùng đất này từ rất sớm. Mỗi lễ cúng, các dân tộc đều phải khấn mời tổ tiên người Lô Lô, Pu Péo chứng giám để thể hiện lòng tri ân với các dân tộc đầu tiên có công khai hoang, khẩn hoang một vùng đất.

Đồng bào Pu Péo ở Phố Bảng thụ lộc sau lễ cúng. Ảnh: Tuệ Lâm

Đồng bào Pu Péo ở Phố Bảng thụ lộc sau lễ cúng. Ảnh: Tuệ Lâm

Trong “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn, được viết vào khoảng giữa thế kỷ 18, có đề cập đến sự hiện diện của người Pu Péo tại Tuyên Quang với tên gọi là La Quả hay Pen-ti, có nghĩa là “bản địa”. Đến nay, theo ước tính của già làng Củng Diu Suyền, một thầy thuốc người Pu Péo nổi tiếng của cả vùng, dân tộc Pu Péo đã có 14 đời định cư trên đất Việt và chủ yếu định cư dọc theo dải đất biên giới của tỉnh Tuyên Quang.

Chúng tôi đến thôn Chúng Trải, xã Phố Bảng (khu vực Phố Là cũ), nơi đồng bào Pu Péo tập trung đông nhất. Kiến trúc xóm bản nơi đây mang nét đặc trưng, xung quanh xóm có tường đá xếp uốn lượn, chạy tít hút vào trong rừng núi. Qua cổng vòm bằng đá là một không gian yên bình với những ngôi nhà tường đất nện ánh lên màu thời gian, nền nhà ốp viền đá tảng xanh. Dù định cư đã nhiều đời, song bà con Pu Péo còn lưu giữ cách tính ngày tháng cổ truyền, chịu ảnh hưởng của lịch pháp phương Bắc. Cách tính lịch này tuy khác với lịch âm hiện nay, nhưng nhiều mốc lễ tiết vẫn tương ứng khá gần với lịch âm của người Việt. Khi chúng tôi đến xóm Củng Chá, đúng dịp mùng 5 tháng 5 theo lịch của đồng bào, là ngày mời tổ tiên về ăn Tết.

Già làng Củng Diu Suyền mời chúng tôi cùng lên rừng lấy cây “suy sáng phù” để treo trước cửa nhà. Đây là một loại cỏ thơm, có thể dùng để chữa chướng bụng. Theo quan niệm của đồng bào, treo cây này trước cửa nhà nhằm chống tà ma; ngoài tổ tiên của gia đình, những linh hồn lạ hoặc ma quỷ không thể vào nhà. Đưa chúng tôi vào thăm nhà, cụ Suyền cho biết, ngôi nhà của đồng bào Pu Péo nhất thiết phải có hai bếp, được gọi là bếp thiêng và bếp phụ. Thoang plu, gian bên trái là gian giữ hồn của chủ nhà với chiếc bếp kiềng, tức bếp thiêng, được đặt chính giữa; trên bếp luôn có chiếc ấm đồng để đun nước thờ cúng. Cạnh đó là dãy phản bày các đồ cúng.

Mỗi ngày, chủ nhà có trách nhiệm nhóm lửa ở bếp kiềng một lần, có vậy mọi sự mới được hanh thông, đại cát. Trên cao có bàn thờ đặt bát hương và những chiếc hũ gốm tượng trưng cho một đời người, bởi đồng bào quan niệm linh hồn tổ tiên luôn dõi theo con cháu, phù hộ cho các gia đình. Trên bàn thờ của người Pu Péo luôn có một quả bầu và chiếc đuôi trâu. Điều này được lý giải là bởi khi tổ tiên người Pu Péo gặp nạn đại hồng thủy, người chồng dùng quả bầu để chứa vợ con, còn mình nắm đuôi trâu, nhờ thế mà thoát cơn đại nạn. Ngoài ra, nhiều gia đình người Pu Péo còn đặt bức ảnh Bác Hồ thật trang trọng trên bàn thờ tổ tiên của gia đình mình để luôn nhớ rằng, Cụ Hồ là người vun đắp cây đại đoàn kết, là người cha vĩ đại của các dân tộc Việt Nam.

Lễ cúng rằm được tiến hành khá đơn giản với hai mâm cúng, một mâm dành cho tổ tiên và một mâm dành cho ma ngoài, ma dưới. Các vật hiến sinh bao giờ cũng được cúng hai lần, một lần trước khi giết thịt và một lần sau khi đã được nấu chín. Gần trưa, khi lễ hoàn tất, mặt trời chói lọi trên đỉnh đầu. Những lát thảo quả muối thơm nồng, miếng thịt lợn gác bếp, đĩa đậu trắng và bát muối dầm ớt cay xè... dưới đôi tay khéo léo của vợ trưởng thôn Củng Phú Xuẩn đã được bày trên mâm.

Sau lễ cúng rằm tháng 5, người Pu Péo lại tổ chức lễ hội cúng thần rừng vào ngày mùng 6 tháng 6 âm lịch, vì họ cho rằng, đây là ngày sạch sẽ nhất trong năm, trời đất đều linh thiêng. Tại cửa rừng thiêng, đồ lễ được bày biện trên những cái nong hoặc lá chuối rừng; bàn thờ được dựng bằng cây trúc màu xanh, cao gần 2m, quay mặt về phía đỉnh núi cao. Những vuông cơm tẻ giã nhuyễn, nặn thành bánh, xắt khúc được bày biện cẩn thận trong những cái nong tròn. Nhiều miếng cơm được xếp thành hàng, thành lối trên lá chuối tươi. Theo quan niệm của bà con, mỗi nắm cơm tượng trưng cho một vị thần. Người Pu Péo theo tín ngưỡng đa thần, thờ thần Rừng, thần Trời, thần Đất, thần Suối, thần Gió... Trên mỗi nắm cơm là một mẩu trứng gà luộc.

Lễ cúng được tiến hành qua 4 bước. Đầu tiên là dâng những lễ vật còn sống. Sau đó, các lễ vật được đem đi làm thịt, rồi tiếp tục dâng cúng phần thịt sống. Tiếp đó, lễ vật được nấu chín và đem trở lại đàn cúng một lần nữa. Bước cuối cùng, thầy cúng mời hương hồn tổ tiên người Pu Péo về chứng kiến lễ cúng thần Rừng và cùng ghi nhận những lời cầu nguyện của tộc người Pu Péo. “Thần Trời, thần Đất, thần Rừng về chứng kiến lễ cúng, hưởng thịt gà, thịt dê và phù hộ cho con người khỏe mạnh, mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt. Cầu cho rừng ngày một xanh tốt, che chở cho con người. Bà con thôn Củng Chá xin thề trước thần Rừng sẽ giữ gìn rừng thật tốt, ai săn bắn, chặt cây trong rừng sẽ bị thần Rừng trừng phạt. Rừng tốt tươi, trời đất giao hòa, bảo hộ cho cuộc sống của bà con Củng Chá. Mưa không gây lũ, nắng không gây hạn, bão gió, sấm sét không đánh chết người...”.

Có lẽ do suốt cuộc đời người Pu Péo gắn với rừng nên bà con quan niệm rất rõ: Họ chỉ cúng tổ tiên 5 đời trở lại trong nhà mình; còn tổ tiên trước 5 đời, các vị thường ở trong rừng, ngụ tại các gốc cây đa to. Cho nên tín ngưỡng giữ rừng, cúng rừng, với người Pu Péo cũng chính là cúng tổ tiên. Bài khấn của họ cũng vô cùng ý nghĩa và cụ thể: “Ơi các thần thánh, tổ tiên... Đừng cho sét đánh xuống ruộng. Gió, đừng cho nó to. Bão, đừng cho nó lớn. Mưa, đừng cho nó nhiều. Nước vào ruộng, nước đủ cho lúa uống. Nắng, đừng cho hạn hán. Thấy gió về, đẩy gió lên núi. Thấy mưa nhiều, đuổi nước xuống khe. Thấy bão về thì quạt bão đi”...

Hết bài cúng, già làng và dân bản tới chỗ cây tổ cao và to nhất khu rừng để thắp hương, báo cáo với thần Rừng rằng, buổi lễ cúng thần Rừng đã hoàn tất. Sau đó, thầy cúng xin thần Rừng một ít cây non để bà con dân tộc Pu Péo trồng vào những khoảng đồi còn trống. Lễ cúng này nhằm cầu mong sự bình yên, sinh trưởng cho vạn vật. Lễ cúng không chỉ mang lại giá trị sâu sắc về tinh thần, mà còn khẳng định vai trò, vị trí của cộng đồng gắn với thiên nhiên; là một hoạt động bảo vệ rừng hết sức hữu hiệu ở vùng cao núi đá.

Người dân Phố Bảng còn truyền tụng nhiều câu chuyện thần bí về các vị thần Rừng và sự trả giá của con người khi dám mạo phạm rừng thiêng. Ở miền đá này, các loài vật như thỏ, nhím, sóc, beo rừng... được coi là con của thần Rừng, không ai dám bắt. Với một dân tộc có ý thức tự giác và tự cường như vậy, việc tuyên truyền, vận động bà con thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước có nhiều thuận lợi. Các cán bộ của Đồn Biên phòng Phó Bảng, Bộ đội Biên phòng tỉnh Tuyên Quang vẫn thường “ba bám, bốn cùng” với đồng bào để nắm rõ tình hình an ninh trật tự tại địa phương, vận động thanh niên Pu Péo nhập ngũ hoặc tham gia dân quân tự vệ, qua đó thể hiện rõ nét vai trò chủ nhân một vùng đất nơi địa đầu đất nước.

Đặng Tuệ Lâm

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/le-thieng-cua-dan-toc-pu-peo-o-pho-bang-post503772.html