Liên kết chuỗi ‘mở đường’ cho hàng Việt đi xa

Một quả na từ núi đá vôi Hữu Lũng, một hạt gạo Séng Cù từ cánh đồng Mường Than, những búp sen trắng cổ xứ Huế hay quả trứng gà thảo dược Sadu... Mỗi sản phẩm bắt đầu từ một vùng đất, một cách làm và một câu chuyện riêng. Nhưng để từ những vùng nguyên liệu ấy bước lên kệ hàng, vào siêu thị, đến tay người tiêu dùng ở những thị trường xa hơn, sản phẩm không thể chỉ trông chờ vào nỗ lực của một người sản xuất.

Phía sau hành trình ấy là cả một mạng lưới liên kết, trong đó hoạt động xúc tiến thương mại ngày càng đóng vai trò như một “mạch nối” giữa cơ quan quản lý nhà nước, địa phương, doanh nghiệp, hợp tác xã, người nông dân và hệ thống phân phối.

Câu chuyện của trứng gà cà gai leo Sadu là một ví dụ. Từ một mô hình chăn nuôi khác biệt của Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Thăng Long, sản phẩm được chuẩn hóa, đạt OCOP 4 sao năm 2021, sau đó tiếp tục được hỗ trợ tiếp cận thị trường thông qua các hoạt động xúc tiến thương mại, hội chợ, kết nối hệ thống phân phối và truyền thông.

Với ông Phan Trung Kiên, Giám đốc Công ty cổ phần Nông nghiệp công nghệ cao Thăng Long, thị trường chính là nơi kiểm chứng cuối cùng cho giá trị sản phẩm. Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Phan Trung Kiên cho biết: “Chúng tôi chủ yếu bán hàng online, trực tiếp ghi nhận những đánh giá của khách hàng. Trong quá trình bán sản phẩm ra thị trường, tôi nhận được rất nhiều lời khen trực tiếp nên rất tự tin về sản phẩm. Chất lượng sản phẩm chính là yếu tố cốt lõi làm nên thương hiệu OCOP 4 sao cho trứng gà Sadu”.

Như vậy, xúc tiến thương mại không chỉ dừng ở việc đưa một sản phẩm đến hội chợ. Giá trị lớn hơn nằm ở việc tạo ra điểm gặp giữa sản phẩm và thị trường, giúp doanh nghiệp lắng nghe phản hồi, điều chỉnh sản phẩm, xây dựng thương hiệu và từng bước mở rộng hệ thống tiêu thụ.

Điều này càng rõ khi nhìn vào những sản phẩm đặc sản vùng miền. Với gạo Séng Cù Than Uyên, điểm nghẽn trước đây không nằm ở việc thiếu sản phẩm mà ở sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chất lượng và sản lượng thiếu ổn định. Doanh nghiệp phải đứng ra tổ chức lại mối liên kết, từ vùng trồng, quy trình sản xuất đến thương hiệu và thị trường.

Sau khi đạt OCOP 4 sao năm 2023, gạo Séng Cù được biết đến rộng rãi hơn, có mặt tại các đại lý, cửa hàng đặc sản và hệ thống siêu thị tại Hà Nội, Lào Cai, Việt Trì; có thời điểm cuối năm sản phẩm còn được tiêu thụ hết.

Nhưng với ông Nguyễn Hồng Hạnh, Giám đốc Công ty TNHH MTV Dũng Long, một thương hiệu chỉ có thể đi xa nếu phía sau nó là một chuỗi liên kết đủ chặt. Ông Nguyễn Hồng Hạnh nhấn mạnh: “Trong bối cảnh người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến xuất xứ hàng hóa, việc xây dựng chuỗi liên kết minh bạch trở thành yêu cầu sống còn”. Đây chính là điểm mà mạng lưới xúc tiến thương mại cần hướng tới: không chỉ “xúc tiến” một sản phẩm đơn lẻ, mà xúc tiến cả chuỗi giá trị phía sau sản phẩm.

Trong nhiều chuỗi nông sản, doanh nghiệp có thể đóng vai trò như “đầu tàu”. Khi doanh nghiệp đủ năng lực đứng ra tổ chức vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật, chuẩn hóa sản xuất, chế biến, xây dựng thương hiệu và tìm đầu ra, hàng trăm hộ sản xuất nhỏ có cơ hội bước vào một chuỗi giá trị mà nếu đi riêng lẻ rất khó tiếp cận.

Gạo Séng Cù Than Uyên cho thấy khá rõ vai trò này. Trước đây, người dân trồng Séng Cù theo kinh nghiệm truyền thống, mạnh ai nấy làm. Sản lượng không ổn định, chất lượng chưa đồng đều, trong khi giống lúa năng suất cao tạo sức ép lên giống lúa bản địa. Công ty TNHH MTV Dũng Long đã tổ chức liên kết với các nhóm hộ dân, hình thành vùng trồng tập trung. Doanh nghiệp hỗ trợ 100% giống, 50% phân bón, hướng dẫn kỹ thuật và cam kết thu mua với giá cao, ổn định.

Ở đây, doanh nghiệp không chỉ là người mua sản phẩm cuối cùng. Doanh nghiệp tham gia từ đầu vào, sản xuất đến đầu ra, qua đó giúp người nông dân có điều kiện duy trì giống lúa đặc sản, còn doanh nghiệp có được nguồn nguyên liệu phù hợp để xây dựng thương hiệu.

Mô hình ấy cũng cho thấy một đặc điểm quan trọng của doanh nghiệp dẫn dắt: muốn kéo được các hộ sản xuất nhỏ vào chuỗi, trước hết phải tạo ra lợi ích đủ rõ ràng cho người tham gia. Khi đầu vào được hỗ trợ, kỹ thuật được hướng dẫn, sản phẩm có nơi tiêu thụ và giá mua ổn định, liên kết mới có cơ sở để bền vững.

Câu chuyện Mộc Truly Huế cũng đi theo logic ấy, nhưng ở một tầng giá trị khác: từ vùng nguyên liệu đến chế biến sâu và kể câu chuyện văn hóa bằng sản phẩm.

Doanh nghiệp đã xây dựng khoảng 20 ha vùng nguyên liệu sen trắng cổ tại Huế, trong đó khoảng 15 ha trực tiếp canh tác và khoảng 5 ha liên kết với nông dân; tiếp tục có kế hoạch mở rộng thêm vùng nguyên liệu cùng người dân. Doanh nghiệp thực hiện bao tiêu sản phẩm, kể cả khi thị trường biến động.

Điểm đáng chú ý là doanh nghiệp không dừng ở việc bán sen tươi. Từ vùng nguyên liệu, Mộc Truly Huế ứng dụng công nghệ chế biến để tạo ra trà sen và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Trà sen Bạch Liên Ngự Trà đạt OCOP 4 sao, có các chứng nhận cần thiết để xuất khẩu và đã có cơ hội tiếp cận thị trường Mỹ.

“Điều quan trọng nhất là chúng tôi có vùng nguyên liệu chủ động với 20 ha sen trắng cổ. Đây là giống sen đặc sản của Huế đã được khôi phục. Trên nền tảng đó, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ để chế biến, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giúp sản phẩm có thể tiếp cận thị trường rộng hơn mà Trà sen Bạch Liên Ngự Trà là sản phẩm tiêu biểu”, chị Phạm Thị Diệu Huyền chia sẻ.

Từ vùng nguyên liệu đến sản phẩm chế biến sâu, từ người nông dân đến thị trường, doanh nghiệp đang đóng vai trò kết nối nhiều mắt xích của chuỗi.

Đáng chú ý, hoạt động xúc tiến thương mại tiếp tục là một phần trong quá trình ấy. Mộc Truly Huế đưa sản phẩm lên các sàn thương mại điện tử, tham gia hội chợ và các chương trình xúc tiến thương mại, qua đó mở rộng thị trường từ Huế tới Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và nhiều địa phương khác.

Với một doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, chị Huyền kỳ vọng có thêm các chương trình kết nối thị trường để sản phẩm địa phương có cơ hội được giới thiệu rộng rãi hơn. Mục tiêu không chỉ là bán hàng mà còn lan tỏa giá trị của sen trắng cổ Huế, đặc sản Huế và hàng Việt tới nhiều người tiêu dùng.

Nếu vùng nguyên liệu là nơi bắt đầu của chuỗi, xúc tiến thương mại là cánh cửa mở ra thị trường thì logistics chính là con đường đưa sản phẩm đi qua cánh cửa ấy. Câu chuyện của Hợp tác xã Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng, Lạng Sơn cho thấy rất rõ khoảng trống này.

Đối với sản phẩm na đặc sản, sản lượng của mỗi thành viên trong mùa vụ có thể từ 5-7 tạ đến 1-2 tấn/ngày. Tuy nhiên, các hộ chưa có khu vực rộng để tập kết, chủ yếu tận dụng sân hoặc nhà lều để thương lái đến đóng hàng tại chỗ. Trong khi đó, thời gian bảo quản của quả na chỉ khoảng một tuần.

Như vậy, bài toán thị trường của sản phẩm không chỉ là “bán cho ai”, mà còn là gom hàng ở đâu, đóng gói thế nào, bảo quản ra sao và đưa hàng đến đâu trong khoảng thời gian rất ngắn.

Ông Lê Đức Hải, Giám đốc HTX Nông nghiệp Xanh Hữu Lũng cho biết, HTX mong muốn xây dựng một khu vực rộng hơn để thương lái có thể tiếp cận thuận lợi. Đồng thời, HTX hướng tới các kênh tiêu thụ gồm quà tặng, siêu thị hoặc chuỗi hoa quả sạch và các kho tiêu thụ, thương lái đến thu mua tại vườn, tại HTX. Đây là một yêu cầu rất thực tế của sản xuất vùng núi: muốn mở rộng thị trường thì phải có hạ tầng vật chất tương ứng với thị trường.

Từ góc độ HTX, ông Hải cũng chỉ ra một “nút thắt” khác: “Về tiêu thụ sản phẩm, hiện nay HTX chúng tôi cũng đang gặp một số khó khăn trong kết nối, theo đó tôi mong muốn kết nối được các chuỗi tiêu thụ”.

Để rộng mở đầu ra cho sản phẩm, HTX đã chủ động bán hàng qua Zalo, Facebook, thương mại điện tử và được Sở Công Thương tỉnh Lạng Sơn hỗ trợ mở gian hàng số trên TikTok Shop. HTX cũng tham gia các hội chợ xúc tiến thương mại với sự giới thiệu, kết nối của các cơ quan, đơn vị liên quan.

Những hỗ trợ đó mở thêm cánh cửa thị trường. Nhưng để bước qua cánh cửa và đi vào các chuỗi phân phối hiện đại, sản phẩm còn phải đáp ứng nhiều điều kiện khác. Ông Hải chia sẻ: “Khi có được sản phẩm tốt, nhận diện tốt thì sản phẩm của chúng tôi mới có thể đi vào được các siêu thị, các chuỗi bán hàng, thì phải đầy đủ pháp lý”.

Với một HTX của nông dân, những việc tưởng như đơn giản như xây dựng bộ nhận diện, tem, mã QR, hoàn thiện hồ sơ OCOP hay thiết kế bao bì lại có thể là rào cản lớn. HTX mong muốn được hỗ trợ để hoàn thiện những khâu này, từ đó nâng khả năng tham gia chuỗi tiêu thụ.

Điều đó cho thấy mạng lưới xúc tiến thương mại cần được nhìn rộng hơn một hoạt động quảng bá. Một chương trình kết nối hiệu quả phải có khả năng nối sản phẩm với người mua, hệ thống phân phối, logistics, tiêu chuẩn, bao bì, nhận diện và các yêu cầu pháp lý của thị trường.

Từ một gian hàng tại hội chợ đến một đơn hàng lớn; từ một vùng nguyên liệu trên núi đến một kệ hàng siêu thị; khoảng cách ấy không thể được lấp đầy bằng truyền thông đơn thuần. Cần có doanh nghiệp tổ chức chuỗi, cơ quan quản lý tạo hành lang và kết nối, địa phương hỗ trợ hoàn thiện sản phẩm, cùng với những mắt xích logistics và phân phối đủ năng lực.

Nhìn từ trứng gà Sadu, gạo Séng Cù, sen trắng Huế hay na Hữu Lũng, mỗi sản phẩm có một câu chuyện riêng nhưng đều gặp nhau ở một điểm: giá trị chỉ thực sự được nâng lên khi các mắt xích được nối lại thành chuỗi. Trong chuỗi ấy, cơ quan quản lý nhà nước và hệ thống xúc tiến thương mại mở đường; doanh nghiệp dẫn dắt tổ chức sản xuất và thị trường; người nông dân, hợp tác xã tạo ra nguồn nguyên liệu; logistics bảo đảm dòng hàng không bị đứt gãy; còn hệ thống phân phối đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng.

Khi những mạch nối trong chuỗi liên kết vận hành đồng bộ, một sản phẩm địa phương không còn đứng riêng lẻ giữa thị trường rộng lớn. Nó có thể trở thành một mắt xích của chuỗi giá trị, nơi mỗi thành phần cùng tạo ra giá trị và cùng hưởng lợi từ quá trình đưa hàng Việt đi xa hơn.

Nội dung: Phương Lan. Đồ hoạ: Ngọc Lan

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/longform-lien-ket-chuoi-mo-duong-cho-hang-viet-di-xa-475102.html