Lỗ hổng hàng rào thú y và hậu kiểm an toàn thực phẩm

Vụ việc Công ty CP Đồ hộp Hạ Long bị phát hiện sử dụng thịt lợn dương tính với vi rus dịch tả lợn châu Phi để chế biến thực phẩm đã gây rúng động dư luận những ngày qua.

Không chỉ phơi bày sai phạm nghiêm trọng của một DN có thương hiệu, sự việc còn đặt ra dấu hỏi lớn về hiệu lực hàng rào thú y, cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm và tính cấp thiết của việc chuyển đổi sang mô hình quản lý dựa trên công nghệ, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.

Lỗ hổng hậu kiểm và “vùng an toàn” cho DN lớn

Vụ việc Công ty CP Đồ hộp Hạ Long bị phát hiện sử dụng thịt lợn dương tính với virus dịch tả lợn châu Phi để chế biến thực phẩm không chỉ phơi bày sai phạm đặc biệt nghiêm trọng của một DN có thương hiệu lâu năm, sự việc còn đặt ra dấu hỏi lớn về hiệu lực của hàng rào thú y, cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm và năng lực bảo vệ sức khỏe cộng đồng trong bối cảnh thị trường thực phẩm chế biến ngày càng mở rộng.

Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ các khâu của doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm. Ảnh: Phạm Hùng

Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ các khâu của doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm. Ảnh: Phạm Hùng

Theo cơ quan chức năng, khoảng 130 tấn thịt lợn nhiễm bệnh đã được phát hiện tại kho của DN. Từ nguồn nguyên liệu này, hơn 14.000 hộp patê cùng nhiều sản phẩm khác đã được chế biến, trong đó có khoảng 2 tấn thịt đã đi vào dây chuyền sản xuất trước khi vụ việc bị phát giác. Điều đáng lo ngại là đây không phải cơ sở nhỏ lẻ, hoạt động chui, mà là một DN có uy tín, sản phẩm từng được phân phối rộng rãi tại nhiều hệ thống bán lẻ lớn.

Chính yếu tố “thương hiệu quen thuộc” đã khiến dư luận thêm phần bức xúc. Niềm tin của người tiêu dùng vốn được xây dựng qua nhiều năm đã bị phản bội một cách trực diện. Ngay sau khi thông tin được công bố, các hệ thống siêu thị tại Hà Nội và nhiều địa phương đã khẩn trương thu hồi, gỡ bỏ toàn bộ sản phẩm liên quan để hạn chế rủi ro cho người tiêu dùng.

Công tác tổ chức trong một số khâu quản lý hiện nay vẫn còn hạn chế, tồn tại lỗ hổng, thậm chí có dấu hiệu tiêu cực, làm gia tăng nguy cơ người dân mất lòng tin vào thị trường, đặc biệt là nhóm sản phẩm đồ hộp và thực phẩm chế biến sẵn.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 12/1, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh, đây là vụ việc “có ảnh hưởng rất lớn trên phạm vi toàn quốc”, là “cảnh báo mức rất cao trong an toàn thực phẩm”. Theo bà Nguyễn Thanh Hải, việc một nhãn hàng lớn cố tình sử dụng thịt lợn bệnh cho thấy sự coi thường sức khỏe, thậm chí tính mạng người tiêu dùng. Bà cũng bày tỏ lo lắng khi chính gia đình mình từng sử dụng các sản phẩm của doanh nghiệp này.

Dẫn kế hoạch hành động ứng phó dịch tả lợn châu Phi của Bộ NN&PTNT (nay là Bộ NN&MT), bà Nguyễn Thanh Hải nhấn mạnh nguyên tắc bắt buộc là mọi con lợn nhiễm bệnh phải được tiêu hủy. Từ đó, bà đặt câu hỏi về khả năng có hiện tượng che giấu dịch bệnh, buông lỏng quản lý khâu tiêu hủy, để thịt lợn bệnh “lọt” vào thị trường. Nhận định ban đầu của cơ quan điều tra cho thấy đây là một đường dây khép kín từ thu mua, vận chuyển đến chế biến, làm dấy lên lo ngại về những lỗ hổng mang tính hệ thống.

Một trong những vấn đề được mổ xẻ sâu nhất sau vụ việc là cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm. Theo Nghị định 15/2018 hướng dẫn thi hành Luật An toàn thực phẩm, các sản phẩm thực phẩm chế biến, bao gói sẵn được phép lưu thông ngay sau khi DN tự công bố chất lượng. Nhà nước chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thanh tra và xử phạt. Tuy nhiên, thực tế vụ việc tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long cho thấy khâu hậu kiểm đang tồn tại những lỗ hổng đáng lo ngại.

Nhiều ý kiến cho rằng, hậu kiểm hiện nay đang bị hành chính hóa, phụ thuộc quá nhiều vào hồ sơ, giấy tờ. Không ít cuộc kiểm tra chủ yếu dừng lại ở việc đối chiếu giấy phép, chứng nhận, hóa đơn, sổ sách. Khi DN xuất trình đủ giấy tờ hợp lệ, việc kiểm tra thường kết thúc, trong khi những yếu tố quyết định an toàn thực chất như nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất thực tế hay tính trung thực của thông tin công bố lại ít được kiểm tra sâu. Hệ quả là một nghịch lý tồn tại: DN “đạt chuẩn trên giấy”, nhưng rủi ro ngoài thực tế vẫn âm thầm tích tụ và chỉ bộc lộ khi sản phẩm đã lưu thông rộng rãi. Đặc biệt, uy tín lâu năm của DN vô hình trung tạo ra một “vùng miễn dịch giám sát”, khiến các thương hiệu quen mặt thường được xếp vào nhóm rủi ro thấp, tần suất kiểm tra giảm và mức độ nghi ngờ cũng giảm theo.

Yêu cầu "đại phẫu" cơ chế hậu kiểm

Theo các chuyên gia, vụ việc tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long không phải trường hợp cá biệt, mà phản ánh những lỗ hổng mang tính cấu trúc trong quản lý Nhà nước, thực thi pháp luật và đạo đức kinh doanh. Sau hơn 15 năm thực hiện Luật An toàn thực phẩm, khung pháp lý hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa theo kịp thực tiễn phát triển nhanh của thị trường thực phẩm chế biến.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) nhận định, việc 130 tấn thịt lợn nhiễm dịch tồn tại trong kho DN suốt thời gian dài là minh chứng điển hình cho lỗ hổng lớn trong cơ chế hậu kiểm hiện nay. Pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ về trách nhiệm hậu kiểm của cả DN và cơ quan quản lý Nhà nước. Tuy nhiên, việc thực thi còn thiếu chiều sâu, thiếu kiểm tra thực tế kho bãi, điều kiện bảo quản và tình trạng tồn kho nguyên liệu. Sự phân tán, chồng chéo trong thẩm quyền quản lý giữa các bộ, ngành, cùng với cơ chế phối hợp và chia sẻ dữ liệu chưa hiệu quả, đã tạo ra những “khoảng trống quản lý” nguy hiểm.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn cũng nhấn mạnh nguy cơ hợp thức hóa nguyên liệu bẩn thông qua hệ thống hồ sơ, chứng từ. Luật An toàn thực phẩm mới dừng ở nguyên tắc truy xuất nguồn gốc, trong khi các chuẩn mực kỹ thuật và cơ chế giám sát xuyên suốt chuỗi cung ứng còn thiếu và chưa đồng bộ. Khi truy xuất nguồn gốc không được kiểm soát bằng công nghệ và dữ liệu liên thông, gian lận rất dễ xảy ra. Đáng chú ý, việc cơ quan điều tra vào cuộc xem xét trách nhiệm hình sự được coi là bước đi quan trọng nhằm phá vỡ “tấm khiên pháp nhân” vốn tồn tại lâu nay. Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, khi cả “chất” và “lượng” vi phạm đều vượt ngưỡng sử dụng thịt bệnh bị cấm tuyệt đối với quy mô lớn - hành vi này không còn là sai sót kinh doanh, mà là mối đe dọa nghiêm trọng đối với an ninh sức khỏe cộng đồng.

Trong bối cảnh Bộ Y tế đang lấy ý kiến về dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), nhiều ý kiến cho rằng đây là thời điểm cần một cuộc “đại phẫu” thực sự đối với cơ chế hậu kiểm. Theo TS Chu Quốc Thịnh - Quyền Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), dự thảo luật tập trung vào việc siết chặt quản lý cơ sở nguy cơ cao, tăng cường hậu kiểm dựa trên đánh giá rủi ro, làm rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý và DN.

Các chuyên gia đồng thuận rằng, chỉ khi hậu kiểm được thực hiện một cách thực chất, thường xuyên, dựa trên công nghệ truy xuất nguồn gốc, chế tài đủ mạnh và trách nhiệm cá nhân rõ ràng, “vùng an toàn” cho cả DN lẫn cơ quan quản lý mới bị xóa bỏ. Vụ việc tại Công ty CP Đồ hộp Hạ Long là hồi chuông cảnh báo đắt giá, nhắc nhở rằng sức khỏe và tính mạng người dân không thể bị đánh đổi bằng lợi nhuận và niềm tin của xã hội chỉ có thể được khôi phục bằng một cơ chế quản lý nghiêm minh, minh bạch, có trách nhiệm giải trình đến cùng.

Lỗ hổng cốt lõi không nằm ở việc thiếu quy định pháp luật, mà nằm ở cách vận hành và triết lý quản lý. Hậu kiểm đang bị lệ thuộc quá mức vào hồ sơ, giấy tờ, trong khi kiểm soát thực chất và trách nhiệm chuỗi bị làm mờ. DN có thể đạt chuẩn trên giấy, nhưng vi phạm vẫn tồn tại ngoài đời thực.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn - Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội)

Phương Nga

Nguồn KTĐT: https://kinhtedothi.vn/lo-hong-hang-rao-thu-y-va-hau-kiem-an-toan-thuc-pham.961399.html