Lồng ghép giới vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi 2026: Từ nguyên tắc pháp lý đến trách nhiệm thực thi

Dù Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã đặt ra những nền tảng ban đầu, nhưng việc thiếu vắng các quy định hướng dẫn lồng ghép giới cùng cách tiếp cận "trung tính giới" đang tạo ra những bất bình đẳng gián tiếp. Xung quanh vấn đề này, chuyên gia độc lập về giới Nguyễn Thị Lan đã có những chia sẻ sâu sắc về những khoảng trống cần khắc phục trong dự thảo luật sửa đổi 2026, cũng như giải pháp bảo đảm quyền lợi thiết thực cho phụ nữ và các nhóm lao động yếu thế tại cộng đồng.

 Chuyên gia độc lập về giới Nguyễn Thị Lan

Chuyên gia độc lập về giới Nguyễn Thị Lan

PV: Từ góc độ là một chuyên gia tư vấn độc lập, chị đánh giá như thế nào về mức độ lồng ghép các vấn đề giới trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành thời gian qua? Đâu là những khoảng trống hoặc hạn chế lớn nhất cần được khắc phục?

Chuyên gia Nguyễn Thị Lan: Luật Bảo vệ môi trường và luật sửa đổi năm 2026 đã có điểm khởi đầu rất tốt khi xác lập ngay tại điều 4 nguyên tắc bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hoà với an sinh xã hội, quyền trẻ em và bình đẳng giới. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để tiếp tục cụ thể hoá bình đẳng giới trong trong các nội dung khác nhau của văn bản luật sửa đổi cũng như các nghị định, thông tư hướng dẫn.

Tuy nhiên, vấn đề hiện nay không còn nằm ở việc có hay không có nguyên tắc bình đẳng giới, mà là nguyên tắc đó đã được chuyển hóa thành các nghĩa vụ, tiêu chí, quy trình và công cụ thực hiện cụ thể như thế nào. Đây chính là khoảng trống đáng chú ý nhất.

Hiện nay, trong bối cảnh mới, chính sách môi trường gắn liền với chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, thị trường các-bon hay kinh tế tuần hoàn. Những vấn đề này đều có tác động đến con người, trong đó gồm cả nữ giới, nam giới và các giới khác. Không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, kinh tế và sức khỏe của họ, các quy định này đều rất quan trọng.

Khi rà soát các quy định của văn bản pháp luật và văn bản dưới luật, cách tiếp cận nhìn chung có thể gọi là "trung tính giới", quy định áp dụng chung cho "cộng đồng", "người dân", " người lao động", " hộ gia đình" mà chưa xem xét một cách có hệ thống những tác động khác biệt, những khó khăn và nhu cầu khác nhau của nữ giới và nam giới. Tác động của các vấn đề môi trường lên phụ nữ và nam giới vốn dĩ là khác nhau, và ngay giữa các nhóm phụ nữ hay nam giới cũng có sự khác biệt. Do đó, cách tiếp cận trung tính giới, đối xử tất cả mọi người như nhau, đôi khi vô tình lại tạo ra những bất bình đẳng giới gián tiếp.

PV: Trong Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường 2026, theo chị, những nội dung hoặc điều khoản trọng tâm nào cần được bổ sung hoặc điều chỉnh để đảm bảo nguyên tắc bình đẳng giới và thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường?

Chuyên gia Nguyễn Thị Lan: Thứ nhất, mặc dù chúng ta đã có nguyên tắc thúc đẩy bình đẳng giới ở Điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường cũng như luật sửa đổi mới, nhưng khi rà soát tất cả các văn bản dưới luật hay các nội dung khác của luật, lại không có quy định hướng dẫn về trách nhiệm lồng ghép giới hay cách thức thực hiện lồng ghép giới trong các hoạt động bảo vệ môi trường. Điều này để lại một khoảng trống lớn trong khâu thực thi, thực hiện trách nhiệm giải trình và đảm bảo vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan trong việc thúc đẩy bình đẳng giới.

Thứ hai là cần tăng cường lồng ghép các tác động xã hội và tác động giới trong đánh giá tác động môi trường. Tuy nhiên, bên cạnh các chỉ số kỹ thuật về môi trường, cần xem xét rõ hơn những tác động khác biệt đến sinh kế, sức khỏe, việc làm, quyền sử dụng và tiếp cận tài nguyên, an toàn, công việc chăm sóc không được trả công và khả năng thích ứng của các nhóm dân cư khác nhau.

Bên cạnh đó, Luật hiện hành đã quy định cộng đồng dân cư và cá nhân chịu tác động trực tiếp là đối tượng được tham vấn trong quá trình đánh giá tác động. Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng tiếp theo là: Ai thực sự được tham gia trong cộng đồng đó và tiếng nói của những người chịu tác động nhiều nhất có được ghi nhận hay không? 

Một số chuyên gia đề xuất phải đảm bảo tỷ lệ phụ nữ tham gia khoảng 30%, 35% hoặc 50%. Theo tôi, tỷ lệ có thể là một chỉ báo hữu ích nhưng không nên coi tỷ lệ tham dự là thước đo duy nhất của bình đẳng giới. Có mặt tại cuộc họp không đồng nghĩa với có tiếng nói và càng không đồng nghĩa với ý kiến được tiếp thu. Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm sự tham gia có ý nghĩa và thực chất của phụ nữ và người dân bị ảnh hưởng. Phụ nữ, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng dân tộc thiểu số, có thể gặp những rào cản rất thực tế như thời gian tổ chức tham vấn không phù hợp, trách nhiệm chăm sóc gia đình, hạn chế về ngôn ngữ, thông tin kỹ thuật khó tiếp cận hoặc các chuẩn mực xã hội khiến họ ít có cơ hội phát biểu. 

Do đó, quy định hướng dẫn nên yêu cầu xác định các nhóm chịu tác động; lựa chọn thời gian, địa điểm và hình thức tham vấn phù hợp; ghi nhận ý kiến theo giới và nhóm xã hội khi cần thiết; đồng thời làm rõ ý kiến nào đã được tiếp thu, ý kiến nào không được tiếp thu và lý do. Đó là điểm tôi rất mong muốn được góp ý vào dự thảo luật mới để bảo đảm sự tham gia thực chất của phụ nữ và các nhóm đối tượng bị ảnh hưởng trong công tác đánh giá tác động môi trường.

Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm sự tham gia có ý nghĩa và thực chất của phụ nữ và người dân bị ảnh hưởng

Điều quan trọng nhất là phải bảo đảm sự tham gia có ý nghĩa và thực chất của phụ nữ và người dân bị ảnh hưởng

PV: Chị nhìn nhận tiềm năng và sức ảnh hưởng của phụ nữ Việt Nam hiện nay ra sao trong việc tham gia hoạch định chính sách cũng như thực hiện các sáng kiến bảo vệ môi trường tại cộng đồng?

Chuyên gia Nguyễn Thị Lan: Phụ nữ vừa có thể là nhóm chịu những tác động bất lợi của biến đổi môi trường và quá trình chuyển đổi, vừa là những chủ thể có kiến thức, năng lực và khả năng tạo ra thay đổi. Ở cộng đồng, phụ nữ tham gia rất tích cực vào các hoạt động bảo vệ môi trường, quản lý chất thải, sản xuất nông nghiệp, kinh doanh nhỏ và nhiều hoạt động kinh tế hộ gia đình. Phụ nữ cũng hiện diện đông đảo trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như khu vực kinh tế phi chính thức. 

Vì vậy, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn hay chuyển dịch năng lượng đều có liên hệ trực tiếp tới sinh kế và cơ hội kinh tế của họ. Nhưng vấn đề cần quan tâm không chỉ là phụ nữ có tham gia hay không, mà là họ tham gia ở vị trí nào, có quyền ra quyết định hay không và có được hưởng lợi công bằng hay không.

Ví dụ, khi một ngành nghề chuyển từ mô hình truyền thống sang công nghệ xanh hơn, cần đặt câu hỏi: Phụ nữ có được tiếp cận đào tạo kỹ năng mới không? Có tiếp cận vốn và công nghệ không? Những lao động trong khu vực phi chính thức có bị mất sinh kế không? Các việc làm xanh mới được tạo ra có thực sự mở ra cơ hội cho phụ nữ hay tiếp tục tập trung ở những ngành kỹ thuật vốn có tỷ lệ nam giới cao?

Bên cạnh đó còn có các nhóm đối tượng khác ở cộng đồng như người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người nghèo, người bị thu hồi đất, bị ảnh hưởng bởi các dự án tái định cư hay các dự án thủy điện lớn vốn tác động mạnh đến cộng đồng xung quanh.

Cần phải thúc đẩy các sáng kiến tại cộng đồng để phụ nữ và người dân được tham gia và hưởng lợi, thay vì chịu tác động tiêu cực. Đây là hai khía cạnh của một vấn đề: Một mặt phụ nữ là chủ thể chịu ảnh hưởng, mặt khác họ là những "chủ thể thay đổi" vấn đề.

Ngày nay, rất nhiều phụ nữ đã tham gia vào các doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc lĩnh vực công nghệ. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ các vị trí lãnh đạo và ra quyết định trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là các lĩnh vực thuần kỹ thuật như quản lý môi trường, quản lý nước, vẫn còn rất thấp. Dù chúng ta thấy nhiều phụ nữ lãnh đạo ở các bộ, ban, ngành có đóng góp tích cực và tạo ra hình ảnh mạnh mẽ, truyền cảm hứng trong cộng đồng, nhưng về lâu dài, chúng ta cần sửa đổi chính sách để phụ nữ tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình hoạch định chính sách, quản trị tài nguyên và ra quyết định.

Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng và quyền lợi hợp pháp của phụ nữ. Sự tham gia của Hội cùng các tổ chức xã hội, chuyên gia giới, chuyên gia xã hội và đặc biệt là chính những nhóm dân cư chịu tác động có thể giúp quá trình xây dựng và phản biện chính sách phản ánh đầy đủ hơn các tác động thực tế tại cộng đồng.

Cần phải thúc đẩy các sáng kiến tại cộng đồng để phụ nữ và người dân được tham gia và hưởng lợi, thay vì chịu tác động tiêu cực.

Cần phải thúc đẩy các sáng kiến tại cộng đồng để phụ nữ và người dân được tham gia và hưởng lợi, thay vì chịu tác động tiêu cực.

PV: Để các quy định về lồng ghép giới khi được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi không dừng lại ở hình thức mà thực sự đi vào đời sống, theo chị, chúng ta cần những cơ chế giám sát, nguồn lực hoặc sự phối hợp liên ngành như thế nào giữa cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức xã hội?

Chuyên gia Nguyễn Thị Lan: Luật và các văn bản dưới luật, thông tư, nghị định của chúng ta rất đầy đủ, chi tiết và có hàm lượng chuyên môn kỹ thuật cao thể hiện sự đầu tư trí tuệ lớn của các chuyên gia.

Tuy nhiên, khi xây dựng các công cụ môi trường, góc nhìn về giới, sinh kế, lao động, sức khỏe, dân tộc, khuyết tật và các vấn đề xã hội cần được tích hợp ngay từ đầu thay vì được bổ sung sau khi chính sách đã được thiết kế. Vì vậy, trước hết cần tăng cường sự tham gia của chuyên gia giới và chuyên gia xã hội trong quá trình xây dựng chính sách, lập đánh giá tác động, thẩm định và giám sát đối với những chương trình, dự án có tác động xã hội đáng kể. Dù luật đã quy định nguyên tắc bình đẳng giới, nhưng trong các thông tư, nghị định hướng dẫn chi tiết cách thức thực hiện lồng ghép giới vẫn chưa thể hiện rõ và thiếu nguồn lực ngân sách để triển khai. Chẳng hạn, hướng dẫn có thể quy định nội dung tối thiểu của phân tích giới; yêu cầu xác định các nhóm có nguy cơ chịu tác động bất lợi; phương pháp tổ chức tham vấn bao trùm; cách ghi nhận và phản hồi ý kiến; cũng như một số chỉ số theo dõi kết quả về giới và hòa nhập xã hội.

Thêm vào đó, những người thực thi ở cấp cơ sở chưa nhận thức được tầm quan trọng của bình đẳng giới và hòa nhập xã hội. Một dự án triển khai không chỉ ảnh hưởng đến giới tính nam hay nữ, mà còn tác động sâu rộng đến đời sống, sinh kế, công việc và mọi mặt của người dân. Để luật thực sự đi vào cuộc sống, cần có sự tham gia của nhiều bên, với các hướng dẫn cụ thể trong văn bản dưới luật.

Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường, đơn vị tư vấn đánh giá tác động, chủ dự án và cơ quan thẩm định. Hiểu biết về bình đẳng giới không chỉ đơn thuần là phân biệt nam - nữ, mà rộng hơn là tạo điều kiện, cơ hội để cả phụ nữ và nam giới phát huy tối đa năng lực, được hưởng lợi công bằng từ các chính sách và dự án của Nhà nước.

Khi xây dựng các công cụ môi trường, góc nhìn về giới, sinh kế, lao động, sức khỏe, dân tộc, khuyết tật và các vấn đề xã hội cần được tích hợp ngay từ đầu thay vì được bổ sung sau khi chính sách đã được thiết kế.

Khi xây dựng các công cụ môi trường, góc nhìn về giới, sinh kế, lao động, sức khỏe, dân tộc, khuyết tật và các vấn đề xã hội cần được tích hợp ngay từ đầu thay vì được bổ sung sau khi chính sách đã được thiết kế.

Cuối cùng, tôi cho rằng cần thiết lập cơ chế trách nhiệm giải trình và giám sát kết quả. Mục tiêu cuối cùng của lồng ghép giới trong pháp luật môi trường không phải là đưa thêm một vài cụm từ "phụ nữ" hay "bình đẳng giới" vào văn bản. Điều quan trọng hơn là bảo đảm quá trình phát triển xanh tạo ra cơ hội công bằng hơn, không làm gia tăng những bất bình đẳng sẵn có và không để những nhóm có ít tiếng nói nhất phải gánh chịu phần lớn chi phí của quá trình chuyển đổi. 

Nếu Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi có thể tạo được cơ chế đó, chúng ta sẽ chuyển được từ "bình đẳng giới như một nguyên tắc" sang "bình đẳng giới như một kết quả có thể đo lường và chịu trách nhiệm giải trình".

Kim Thanh (thực hiện)

Nguồn Phụ Nữ VN: https://phunuvietnam.vn/long-ghep-gioi-vao-du-thao-luat-bao-ve-moi-truong-sua-doi-2026-tu-nguyen-tac-phap-ly-den-trach-nhiem-thuc-thi-238261019020407755.htm