Luật An toàn thực phẩm sửa đổi: 'Lấp khoảng trống' pháp lý về quản lý an toàn thực phẩm

Sau hơn 15 năm, thực tiễn triển khai Luật An toàn thực phẩm (ATTP) năm 2010 cho thấy một số quy định đã không còn phù hợp yêu cầu quản lý, tạo ra vướng mắc, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng. Rủi ro chủ yếu bùng phát sau khi sản phẩm đã ra thị trường, mô hình quản lý thiên về 'tiền kiểm' đang bộc lộ nhiều hạn chế, trong khi nguồn lực, trang thiết bị kiểm nghiệm còn thiếu, cơ chế phối hợp liên ngành còn bất cập. Luật ATTP sửa đổi được kỳ vọng sẽ 'lấp các khoảng trống' pháp lý, củng cố kỷ cương, nâng hiệu lực hậu kiểm và nâng cao chất lượng thực phẩm.

“Khoảng trống” pháp lý khiến rủi ro mất ATTP luôn rình rập

Để quản lý toàn diện về thực phẩm thì cần có hệ thống pháp luật quản lý đồng bộ về chất lượng, an toàn và kiểm soát hàng giả. Tuy nhiên, hiện nay hệ thống pháp luật quy định kiểm soát chất lượng hàng hóa đang thực hiện theo quy định của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa; kiểm soát ATTP theo quy định của Luật ATTP và kiểm soát hàng giả theo quy định tại Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Theo quy định của Luật ATTP thì có 03 Bộ quản lý cùng với các Thông tư của 03 Bộ: Y tế, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Trong đó, có một số quy định chưa bảo đảm đồng bộ, thống nhất; một số quy định khác không còn bảo đảm tính khả thi trên thực tiễn. Ví dụ, quy định các sản phẩm thực phẩm đã qua chế biến bao gói sẵn phải đăng ký bản công bố hợp quy với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trước khi lưu thông trên thị trường không phù hợp với phương thức quản lý về ATTP hiện hành.

Theo đánh giá của Bộ Y tế trong Tờ trình chính sách của Luật ATTP (sửa đổi), việc quản lý thực phẩm cần dựa trên nguy cơ, đối với những nhóm cần kiểm soát chặt hơn phải có biện pháp quản lý chặt chẽ hơn những nhóm sản phẩm thông thường chứ không nên dựa vào việc có quy chuẩn hay chưa có quy chuẩn.

Một điểm bất cập đáng chú ý khác là hệ thống quản lý chưa kiểm soát được chất lượng thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm chức năng trong quá trình sản xuất, lưu thông trên thị trường. Cụ thể, Luật ATTP hiện hành mới tập trung vào vấn đề an toàn thực phẩm mà ít quan tâm đến vấn đề chất lượng của thực phẩm. Hoạt động kiểm nghiệm đối với sản phẩm phải đăng ký bản công bố chỉ yêu cầu “Phiếu kết quả kiểm nghiệm ATTP của sản phẩm… gồm các chỉ tiêu an toàn do Bộ Y tế ban hành theo nguyên tắc quản lý rủi ro phù hợp với quy định của quốc tế hoặc các chỉ tiêu an toàn theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn tương ứng do tổ chức, cá nhân công bố trong trường hợp chưa có quy định của Bộ Y tế”, không bắt buộc phải kiểm nghiệm các chỉ tiêu liên quan đến chất lượng sản phẩm.

Bên cạnh đó, Luật ATTP quy định về “Thực phẩm chức năng lần đầu tiên ra thị trường” phải có báo cáo hiệu quả công dụng, tuy nhiên Luật ATTP cũng không có khái niệm thực phẩm chức năng lần đầu tiên ra thị trường. Thực tiễn rất khó xác định thế nào là “lần đầu tiên đưa ra thị trường”. Mặt khác, hệ thống quản lý, mô hình tổ chức bộ máy quản lý về ATTP trên toàn quốc chưa tinh gọn, thống nhất. Việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các Bộ và địa phương còn khó phân định rõ trách nhiệm khi xảy ra sự cố.

Trên thực tế, điều khiến dư luận bức xúc thời gian qua là tình trạng sản xuất thực phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng với quy mô lớn vẫn diễn ra ngang nhiên, kéo theo nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Dù cơ quan chức năng đã tăng cường hậu kiểm và phát hiện nhiều cơ sở vi phạm, rủi ro vẫn hiện hữu ở những điểm sản xuất, kinh doanh chưa được kiểm tra hoặc chưa bị phát hiện sai phạm. Thực tế đó đặt ra một câu hỏi đáng lo ngại: công tác hậu kiểm hiện nay đã đủ hiệu lực, hiệu quả để “lọc” nguy cơ và bảo đảm ATTP trên thị trường hay chưa?

Ngoài ra, vẫn còn tồn tại những “lỗ hổng” pháp lý khác như còn thiếu cơ chế để cơ quan nhà nước thu hồi các giấy chứng nhận đã cấp hoặc tạm dừng cung cấp các dịch vụ công khi tổ chức, cá nhân bị phát hiện vi phạm; chưa giao thẩm quyền cho Chính phủ quy định tạm dừng tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký bản công bố hoặc công bố tiêu chuẩn áp dụng khi có vi phạm.

Cùng với đó, hệ thống cơ sở dữ liệu về quản lý thực phẩm, cơ sở sản xuất thực phẩm vẫn chưa hoàn thiện như: chưa có đầu mối cơ quan quản lý nhà nước để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia để quản lý trực tuyến về ATTP; chưa có hệ thống đánh giá nguy cơ về ATTP, chưa có hệ thống thông tin, truyền thông và cảnh báo nguy cơ đối với ATTP, các bệnh truyền qua thực phẩm;…

Mặt khác, Luật ATTP hiện hành mới chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà chưa quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đứng tên công bố sản phẩm. Điều này gây ra khó khăn cho cơ quan quản lý trong quá trình kiểm soát, thanh tra, kiểm tra sản phẩm lưu thông trên thị trường vì tổ chức, cá nhân đứng tên công bố sản phẩm là người chịu trách nhiệm với cơ quan quản lý với sản phẩm công bố nhưng lại không có trách nhiệm với sản phẩm khi lưu hành là không hợp lý.

Đưa cơ chế hậu kiểm và phối hợp liên ngành thành trục quản lý mới

Từ những vướng mắc nêu trên, Luật ATTP (sửa đổi) đặt ra những mục đích rõ ràng: Giải quyết kịp thời các hạn chế, vướng mắc, bất cập trong các quy định của Luật ATTP; Xác định và đề cao trách nhiệm của cơ quan quản lý, doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm, nâng cao hiệu quả bảo đảm chất lượng, ATTP; Tăng cường công tác hậu kiểm để nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi quy định của pháp luật về ATTP và nâng cao chất lượng thực phẩm; Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền trong hoạt động về quản lý thực phẩm, bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Đơn cử, chính sách tăng cường quản lý đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thực phẩm có nguy cơ cao nhấn mạnh “siết chặt quản lý từ khâu sản xuất đến khi sản phẩm thực phẩm được lưu thông trên thị trường, kết hợp tăng cường cả “tiền kiểm” và “hậu kiểm” đối với sản phẩm nguy cơ cao để bảo đảm các sản phẩm lưu thông trên thị trường an toàn và chất lượng cho người sử dụng, hướng tới phương thức kiểm soát ATTP của các nước phát triển”.

Theo đó, nhằm hướng tới quản lý trong toàn bộ quá trình lưu hành sản phẩm, cơ chế hậu kiểm sẽ tập trung việc kiểm tra hồ sơ, thủ tục cấp giấy đăng ký lưu hành, công bố tiêu chuẩn áp dụng, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện kinh doanh thực phẩm; chất lượng, an toàn của sản phẩm thực phẩm trong quá trình kinh doanh và các sản phẩm thực phẩm có nguy cơ cao, sản phẩm thực phẩm có khả năng sử dụng sai mục đích, dễ bị lạm dụng.

Cơ quan chức năng cũng sẽ tăng cường quản lý hoạt động quảng cáo trên sàn thương mại điện tử và nền tảng xã hội như yêu cầu công khai thông tin bản đăng ký công bố sản phẩm hoặc hồ sơ công bố chất lượng, hồ sơ quảng cáo được cơ quan có thẩm quyền xác nhận; đồng thời giám sát chủ thể phát hành và chuyển tải quảng cáo, trong đó người nổi tiếng/người có ảnh hưởng phải công khai mối quan hệ tài trợ khi quảng cáo.

Về phối hợp ban ngành và phân cấp, Luật ATTP (sửa đổi) hướng tới kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước theo hướng thống nhất chỉ một đầu mối thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh, ATTP từ trung ương tới địa phương. Đồng thời, phân cấp, phân quyền tối đa nhằm nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về sản phẩm thực phẩm. Cụ thể, Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thực phẩm.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng được quy định rõ các trách nhiệm liên quan. Ở tuyến địa phương, UBND cấp tỉnh được phân cấp tối đa và chịu trách nhiệm về tổ chức đơn vị quản lý để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về sản phẩm thực phẩm trong phạm vi địa phương, bao gồm: giải quyết thủ tục hành chính; thanh tra, kiểm tra toàn chuỗi từ sản xuất ban đầu đến lưu hành; phòng ngừa - xử lý sự cố và ứng phó khẩn cấp; quản lý hệ thống kiểm nghiệm/kiểm dịch; truyền thông ATTP cho người dân…

Nhìn chung, khung chính sách mới về ATTP được kỳ vọng sẽ chấm dứt tình trạng buông lỏng quản lý kéo dài, từng bước xử lý tận gốc những bất cập, nhức nhối liên quan đến thực phẩm bẩn, thực phẩm giả - những nguy cơ đang trực tiếp đe dọa sức khỏe cộng đồng. Khi đi kèm hệ thống chế tài đủ mạnh, đặc biệt là các quy định xử lý hình sự nghiêm khắc đối với hành vi cố ý vi phạm, pháp luật sẽ phát huy vai trò răn đe thực chất, tạo lập kỷ cương quản lý, thúc đẩy thị trường thực phẩm vận hành minh bạch và bảo đảm ATTP bền vững cho người dân.

Đỗ Trang

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/luat-an-toan-thuc-pham-sua-doi-lap-khoang-trong-phap-ly-ve-quan-ly-an-toan-thuc-pham.html