Luật Chuyển đổi số 2025 và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Hai đạo luật không chỉ tạo nền tảng thúc đẩy Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số mà còn mở không gian mới cho nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.

Lần đầu xác lập khung pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số

Nếu Luật Chuyển đổi số tạo ra khung pháp lý thống nhất cho quá trình số hóa toàn diện quốc gia, thì Luật Công nghệ cao (sửa đổi) mở ra một không gian thể chế mới để thúc đẩy nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi và xây dựng năng lực cạnh tranh dài hạn. Hai đạo luật được kỳ vọng sẽ trở thành cặp “đòn bẩy kép”, vừa tạo thị trường cho công nghệ, vừa tạo năng lực để Việt Nam làm chủ tương lai số.

Sau nhiều năm thúc đẩy chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả trong phát triển hạ tầng số, dịch vụ công trực tuyến, kinh tế số và ứng dụng công nghệ trong đời sống. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy nhiều điểm nghẽn về dữ liệu phân tán, nền tảng thiếu liên thông, nguồn lực đầu tư chưa đồng đều và cơ chế phối hợp còn phân tán giữa các cấp, các ngành.

Trong bối cảnh đó, việc Luật Chuyển đổi số 2025 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026 được xem là dấu mốc quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế.

Điểm nổi bật của luật là lần đầu tiên điều chỉnh toàn diện hoạt động chuyển đổi số của cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp và người dân. Với 8 chương, 48 điều, luật quy định các nguyên tắc nền tảng, cơ chế điều phối quốc gia, biện pháp bảo đảm chuyển đổi số; phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và trách nhiệm của các chủ thể liên quan.

Một trong những nội dung mang tính nền tảng là yêu cầu các hệ thống số phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, liên thông, có khả năng kết nối và chia sẻ dữ liệu. Việc xây dựng nền tảng số, cơ sở dữ liệu và dịch vụ số phải tuân thủ Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số, Khung kiến trúc dữ liệu quốc gia và Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia.

Điều này được kỳ vọng sẽ từng bước khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, cục bộ, giúp dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực phục vụ quản trị và phát triển.

Bên cạnh thúc đẩy phát triển, luật cũng đặt ra các giới hạn pháp lý để bảo đảm môi trường số an toàn và cạnh tranh lành mạnh. Theo đó, luật quy định 5 nhóm hành vi bị nghiêm cấm nhằm ngăn chặn việc phá hoại, can thiệp trái phép vào hệ thống, dữ liệu, nền tảng số; khai thác dữ liệu trái quy định; lợi dụng công nghệ số để lừa đảo, trục lợi hoặc tạo độc quyền, cát cứ, hạn chế cạnh tranh.

Một điểm đáng chú ý khác là Nhà nước bảo đảm chi hằng năm tối thiểu 1% tổng chi ngân sách cho chuyển đổi số trong tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Quy định này được đánh giá không chỉ mang ý nghĩa về tài chính mà còn thể hiện cam kết dài hạn về nguồn lực cho quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Luật Công nghệ cao (sửa đổi): Lần đầu luật hóa công nghệ chiến lược

Nếu Luật Chuyển đổi số tạo nền tảng cho vận hành quốc gia số, thì Luật Công nghệ cao (sửa đổi) lại hướng tới giải quyết bài toán năng lực công nghệ, yếu tố được xem là nền tảng để phát triển bền vững trong dài hạn.

Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được đánh giá là bước chuyển đáng chú ý trong tư duy xây dựng chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Điểm mới nổi bật nhất là lần đầu tiên luật hóa các khái niệm công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, sản phẩm công nghệ chiến lược và doanh nghiệp công nghệ chiến lược. Đây là nhóm công nghệ có tính đột phá, lan tỏa, góp phần nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, tạo lợi thế cạnh tranh dài hạn và gắn với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Trao đổi về nội dung này, ông Lý Hoàng Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, Luật không quy định cứng một danh mục cố định các ngành công nghệ cao mà sẽ được cập nhật định kỳ phù hợp với từng giai đoạn phát triển.

Ông Lý Hoàng Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ KH&CN) chia sẻ về Luật Công nghệ cao (sửa đổi). (Ảnh PV)

Theo ông Tùng, công nghệ cao là những công nghệ có hàm lượng nghiên cứu và phát triển lớn, tích hợp các thành tựu khoa học tiên tiến, tạo ra sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường. Trong khi đó, công nghệ chiến lược được xác định là các công nghệ có khả năng tạo đột phá, lan tỏa và tăng cường năng lực tự chủ quốc gia.

Danh mục cụ thể sẽ do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì rà soát, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành và cập nhật định kỳ.

Một điểm mới quan trọng của Luật Công nghệ cao (sửa đổi) là thay đổi cách tiếp cận trong ưu đãi đầu tư.Thay vì ưu đãi dàn trải, luật hướng tới khuyến khích doanh nghiệp đầu tư thực chất cho nghiên cứu và phát triển (R&D), chuyển giao công nghệ lõi và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo được khuyến khích tham gia phát triển công nghệ cao. Các viện nghiên cứu, trường đại học có hoạt động R&D cũng được tạo điều kiện hình thành doanh nghiệp công nghệ cao để đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.

Đối với đầu tư nước ngoài, luật ưu tiên các dự án có chuyển giao công nghệ lõi và liên kết với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao năng lực công nghệ quốc gia.

Một điểm đáng chú ý là doanh nghiệp công nghệ cao được phân thành các mức ưu đãi khác nhau.Trong đó, nhóm doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu đầu tư thực chất cho R&D sẽ được hưởng mức ưu đãi cao nhất về thuế và đầu tư. Điều này cho thấy chính sách không còn tập trung vào thu hút bằng chi phí thấp mà hướng tới tạo giá trị công nghệ dài hạn.

Đồng thời, luật bãi bỏ giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, chuyển sang cơ chế tự đánh giá theo tiêu chí nhằm giảm thủ tục hành chính và tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.

Không chỉ tập trung vào ưu đãi tài chính, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) còn thiết kế cơ chế mở rộng thị trường thông qua mua sắm công. Theo đó, các sản phẩm và dịch vụ công nghệ cao, công nghệ chiến lược sử dụng ngân sách nhà nước được ưu tiên trong đấu thầu, đầu tư, thuê và mua sắm công.

Chính sách này được kỳ vọng sẽ góp phần giải quyết bài toán “đầu ra”, một trong những rào cản lớn của doanh nghiệp công nghệ trong nước.

Khi Nhà nước đóng vai trò “khách hàng đầu tiên”, doanh nghiệp có thêm điều kiện để đầu tư dài hạn, mở rộng quy mô và từng bước hình thành hệ sinh thái công nghệ nội địa.

Song song với đó, luật cũng đưa ra cơ chế đặc thù trong giải mã công nghệ, mua bí quyết công nghệ và hỗ trợ doanh nghiệp thay thế sản phẩm, linh kiện công nghệ lõi nhập khẩu.

Những quy định này được kỳ vọng sẽ tạo tiền đề để Việt Nam từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Một điểm mới khác của Luật Công nghệ cao (sửa đổi) là chính sách dành cho nhân lực công nghệ cao.Theo đó, đội ngũ nghiên cứu, chuyên gia công nghệ cao, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế được hưởng nhiều cơ chế ưu đãi về thuế, điều kiện làm việc, tiếp cận hạ tầng nghiên cứu và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Đặc biệt, luật đưa vào cơ chế chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu và phát triển công nghệ, một thay đổi được đánh giá là cần thiết để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Cùng với đó, Luật hướng tới tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quản lý nhà nước đối với lĩnh vực công nghệ cao.

Không dừng ở các ưu đãi về tài chính hay đầu tư, các chính sách mới thể hiện định hướng đồng hành của Nhà nước trong việc tạo lập môi trường thuận lợi để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Với hệ thống cơ chế, chính sách ưu đãi vượt trội, Luật Công nghệ cao (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp công nghệ dẫn dắt, từng bước xây dựng những tập đoàn có năng lực cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và đóng góp vào mục tiêu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam.

Việc đồng thời đưa vào thực thi Luật Chuyển đổi số 2025 và Luật Công nghệ cao (sửa đổi) cho thấy định hướng phát triển ngày càng rõ nét: lấy dữ liệu, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo làm nền tảng tăng trưởng. Đây không chỉ là bước hoàn thiện thể chế cho giai đoạn phát triển mới, mà còn tạo điều kiện để Việt Nam từng bước chuyển từ ứng dụng sang làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tạo dư địa bứt phá trong kỷ nguyên số.

Nguyệt Thương

Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/luat-chuyen-doi-so-2025-va-luat-cong-nghe-cao-sua-doi-chinh-thuc-co-hieu-luc-tu-ngay-1-7-2026.html