Luật Phát triển đô thị: Mở rộng ‘luồng xanh’ cho hàng hóa từ khu phi thuế quan

Việc phát triển các khu phi thuế quan đang được xem là một trong những nội dung đáng chú ý trong quá trình hình thành những không gian kinh tế mới, gắn với hoạt động thương mại, logistics, sản xuất và kết nối thị trường quốc tế. Điều 22 Luật Phát triển đô thị đã cụ thể hóa các quy định về phát triển khu phi thuế quan theo hướng tạo thuận lợi hơn cho lưu thông hàng hóa, đơn giản hóa một số thủ tục quản lý nhưng vẫn đặt trong khuôn khổ kiểm tra, giám sát cần thiết của cơ quan có thẩm quyền.

Đơn giản hóa thủ tục, tạo thuận lợi cho lưu thông hàng hóa

Công nhân làm việc tại Công ty TNHH Lighting & Equipment Việt Nam (Khu công nghiệp Amata). Ảnh tư liệu

Công nhân làm việc tại Công ty TNHH Lighting & Equipment Việt Nam (Khu công nghiệp Amata). Ảnh tư liệu

Theo khoản 1 Điều 22, không áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương, trừ biện pháp cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, biện pháp kiểm dịch đối với hàng hóa đưa từ nước ngoài vào khu phi thuế quan. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp bộ quản lý chuyên ngành có cảnh báo về an toàn thực phẩm gây nguy hại cho sức khỏe, tính mạng con người, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, nguy hại cho kinh tế, định hướng bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc cơ quan có thẩm quyền có văn bản thông báo dừng áp dụng chế độ miễn kiểm tra chuyên ngành.

Đồng thời, không áp dụng biện pháp quản lý ngoại thương đối với hàng hóa mua bán, vận chuyển giữa các doanh nghiệp trong cùng một khu phi thuế quan hoặc giữa các khu phi thuế quan.

Có thể thấy, quy định này hướng đến việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động lưu thông và trao đổi hàng hóa trong không gian khu phi thuế quan. Việc giảm bớt việc áp dụng các biện pháp quản lý ngoại thương trong những trường hợp luật định có thể giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua bán và vận chuyển hàng hóa.

Sản phẩm nông nghiệp của Đồng Nai. Ảnh tư liệu

Sản phẩm nông nghiệp của Đồng Nai. Ảnh tư liệu

Tuy nhiên, tinh thần tạo thuận lợi không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Khoản 1 Điều 22 vẫn quy định rõ các trường hợp ngoại lệ liên quan đến hàng hóa bị cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu, kiểm dịch cũng như những vấn đề có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, môi trường, đạo đức xã hội, thuần phong mỹ tục, kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia. Đây là cơ chế nhằm bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế luôn đi cùng với việc bảo vệ các lợi ích công cộng và lợi ích quốc gia.

Khoản 2 Điều 22 cũng xác định quan hệ trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan này với khu phi thuế quan khác, giữa khu phi thuế quan với nước ngoài là hoạt động vận chuyển hàng hóa chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan. Cơ quan hải quan áp dụng biện pháp kiểm tra, giám sát theo hướng đơn giản hóa thủ tục thông báo, kê khai đối với các hoạt động này.

Như vậy, việc đơn giản hóa thủ tục được đặt trong cơ chế quản lý, giám sát của cơ quan hải quan. Đây là một điểm quan trọng, bởi đặc thù của khu phi thuế quan là có hoạt động trao đổi hàng hóa với nước ngoài và giữa các khu vực có chế độ quản lý khác nhau. Yêu cầu tạo thuận lợi cho thương mại vì thế cần đi cùng với khả năng theo dõi, giám sát dòng hàng hóa.

Phân định rõ quan hệ giữa khu phi thuế quan với nội địa

Một góc Cảng Phước An (xã Phước An, thành phố Đồng Nai). Ảnh tư liệu

Một góc Cảng Phước An (xã Phước An, thành phố Đồng Nai). Ảnh tư liệu

Một nội dung khác được Điều 22 quy định là quan hệ trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với khu vực nội địa.

Theo khoản 3 Điều 22, quan hệ trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với nội địa là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu. Doanh nghiệp trong khu phi thuế quan được thực hiện thủ tục khai tờ khai đơn giản khi có hoạt động trao đổi hàng hóa với nội địa.

Quy định này xác định rõ tính chất pháp lý của hoạt động trao đổi hàng hóa giữa hai khu vực. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp hoạt động trong khu phi thuế quan có cơ chế thực hiện thủ tục khai tờ khai theo hướng đơn giản hơn. Việc quy định rõ quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu cũng góp phần tạo cơ sở để phân định trách nhiệm quản lý và tổ chức hoạt động của doanh nghiệp.

Điều 22 còn quy định cơ chế riêng đối với hàng hóa được đưa ra ngoài khu phi thuế quan để thực hiện dịch vụ đặc thù. Theo khoản 4, hàng hóa đưa ra ngoài khu phi thuế quan để thực hiện dịch vụ đặc thù có thời hạn, sau đó đưa trở lại vào khu phi thuế quan mà không làm thay đổi bản chất, tên gọi, mã số hàng hóa thì không phải thực hiện thủ tục hải quan. Cơ quan hải quan áp dụng biện pháp quản lý giám sát theo hướng đơn giản hóa dựa trên kê khai vào ra khu phi thuế quan đối với các hàng hóa này. Thời hạn đưa ra, đưa vào khu phi thuế quan không quá 30 ngày.

Quy định này có ý nghĩa đối với những hoạt động cần đưa hàng hóa ra ngoài khu phi thuế quan trong một thời gian nhất định để thực hiện dịch vụ đặc thù rồi đưa trở lại. Điều kiện để được áp dụng cơ chế này là hàng hóa sau khi thực hiện dịch vụ không làm thay đổi bản chất, tên gọi, mã số hàng hóa; đồng thời, thời hạn đưa ra, đưa vào khu phi thuế quan không quá 30 ngày.

Vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu tại Cảng Phước An (xã Phước An, thành phố Đồng Nai). Ảnh: Hải Quân

Vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu tại Cảng Phước An (xã Phước An, thành phố Đồng Nai). Ảnh: Hải Quân

Điểm đáng chú ý là luật quy định không phải thực hiện thủ tục hải quan đối với các hàng hóa đáp ứng các điều kiện nêu trên, nhưng vẫn đặt hoạt động này trong cơ chế quản lý, giám sát dựa trên việc kê khai hàng hóa vào, ra khu phi thuế quan. Cách tiếp cận này thể hiện sự kết hợp giữa yêu cầu giảm bớt thủ tục với việc bảo đảm khả năng quản lý dòng hàng hóa.

Khoản 5 Điều 22 tiếp tục quy định: máy móc, thiết bị đã qua sử dụng trong khu phi thuế quan được nhập khẩu vào nội địa trong trường hợp máy móc, thiết bị đó chưa qua sử dụng tại thời điểm đưa vào khu phi thuế quan.

Quy định này tạo cơ sở pháp lý đối với một trường hợp cụ thể về máy móc, thiết bị sau quá trình sử dụng trong khu phi thuế quan. Đồng thời, điều kiện “chưa qua sử dụng tại thời điểm đưa vào khu phi thuế quan” là yếu tố quan trọng để xác định phạm vi áp dụng của quy định.

Từ các quy định tại Điều 22 có thể thấy, Luật Phát triển đô thị hướng đến việc thiết lập cơ chế thuận lợi hơn cho hoạt động của khu phi thuế quan thông qua việc giảm bớt, đơn giản hóa một số biện pháp quản lý và thủ tục đối với hoạt động lưu thông hàng hóa. Song song đó, luật vẫn duy trì các giới hạn và cơ chế kiểm tra, giám sát cần thiết, nhất là đối với những vấn đề liên quan đến an toàn, môi trường, sức khỏe con người, lợi ích kinh tế, quốc phòng và an ninh quốc gia.

Việc quy định rõ quan hệ trao đổi hàng hóa giữa khu phi thuế quan với nước ngoài, giữa các khu phi thuế quan và với khu vực nội địa cũng tạo cơ sở để tổ chức hoạt động thương mại theo hướng minh bạch hơn. Đây có thể xem là một trong những tiền đề pháp lý quan trọng để khu phi thuế quan vận hành phù hợp với yêu cầu phát triển các hoạt động thương mại, logistics và kết nối kinh tế trong bối cảnh phát triển đô thị theo những không gian mới.

Hải Thanh

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/kinh-te/202608/luat-phat-trien-do-thi-mo-rong-luong-xanh-cho-hang-hoa-tu-khu-phi-thue-quan-b0d0db5/