Văn hóa - Từ mạch nguồn dân tộc đến sức mạnh quốc gia - Bài 3: Khơi thông thể chế, giải phóng nguồn lực phát triển văn hóa

“Đại hội XIV đã xác định rõ phát triển văn hóa là động lực, nguồn lực nội sinh, và là một trong bốn trụ cột phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Để hiện thực hóa khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, toàn Đảng và hệ thống chính trị phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, khơi thông mọi điểm nghẽn thể chế, giải phóng mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho văn hóa, đưa văn hóa phát triển ngang tầm với chính trị, kinh tế và xã hội.” -Trích Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.

Để đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới, đổi mới tư duy lập pháp và xây dựng thể chế phát triển văn hóa là yêu cầu đặc biệt quan trọng. Thể chế phát triển có ý nghĩa quyết định đối với việc khơi thông nguồn lực và giải phóng sức sáng tạo của nhân dân. Tuy nhiên, do thể chế quản lý văn hóa chậm đổi mới, nên các rào cản và quy định chồng chéo trong các lĩnh vực tài chính, đầu tư, đất đai vẫn cản trở hoạt động đầu tư văn hóa. Nhận thức sâu sắc triết lý phát triển của Đảng, toàn hệ thống chính trị phải chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính cứng nhắc sang tư duy kiến tạo phát triển.

Thực thi Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, chúng ta dứt khoát từ bỏ lối tư duy lỗi thời “không quản được thì cấm”. Luật pháp không chỉ là công cụ để điều chỉnh hành vi, mà còn là nền tảng dẫn dắt, mở đường cho sự phát triển văn hóa nhanh và bền vững. Đối với các mô hình phát triển văn hóa mới, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến không gian số và công nghiệp sáng tạo, Quốc hội sẵn sàng cho phép áp dụng các khung thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox). Chúng ta chấp nhận rủi ro trong hạn mức để không bỏ lỡ cơ hội bứt phá của đất nước, đồng thời chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức “tiền kiểm” cứng nhắc sang “hậu kiểm” minh bạch dựa trên phân tầng rủi ro.

Hiện nay, nhiều di sản đã được “đánh thức” bằng các hoạt động gắn với đời sống đương đại.

Hiện nay, nhiều di sản đã được “đánh thức” bằng các hoạt động gắn với đời sống đương đại.

Tập trung tháo gỡ dứt điểm các nút thắt về thể chế là trách nhiệm chính trị của Quốc hội và Chính phủ. Thể chế phát triển văn hóa phải bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, giảm thiểu tối đa chi phí tuân thủ cho các doanh nghiệp và tổ chức sáng tạo. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh trong các ngành công nghiệp văn hóa là bước đi đột phá để đưa văn hóa thực sự thấm sâu vào đời sống xã hội. Khi thể chế được chuyển hóa thành lợi thế cạnh tranh quốc gia, văn hóa Việt Nam sẽ có đủ điều kiện để vươn tầm ra thị trường toàn cầu.

Sự phát triển của văn hóa đòi hỏi sự đầu tư thỏa đáng và dài hạn từ nguồn lực ngân sách nhà nước làm đòn bẩy dẫn dắt đầu tư xã hội. Đảng và Nhà nước đã ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035 với quy mô đầu tư tối thiểu đạt 122.250 tỷ đồng từ nguồn ngân sách trung ương và địa phương đối ứng. Kế hoạch đầu tư công trung hạn ngân sách trung ương giai đoạn 2026-2030 cũng dành riêng nguồn vốn 50.000 tỷ đồng tập trung xây dựng các thiết chế văn hóa, thể thao hiện đại, đồng bộ từ trung ương đến cơ sở. Sự bứt phá về hạ tầng này sẽ khắc phục tình trạng thiếu các trung tâm biểu diễn phức hợp và các thiết chế văn hóa đạt chuẩn quốc tế tại Việt Nam.

Do vai trò của văn hóa đối với tăng trưởng kinh tế ngày càng rõ nét, việc lượng hóa các chỉ tiêu chi đầu tư phát triển văn hóa là vô cùng cần thiết. Chấp hành nghiêm chỉnh Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội, các cấp, các ngành có trách nhiệm đưa mức chi ngân sách nhà nước hằng năm cho văn hóa từ mức khoảng 1,5% lên đạt ngưỡng tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước, bảo đảm tăng dần theo yêu cầu thực tiễn phát triển. Đây là cam kết chính trị mạnh mẽ, khắc phục triệt để căn bệnh “nói quan trọng nhưng làm thì xem nhẹ” vốn tồn tại kéo dài nhiều năm qua.

So sánh Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển văn hóa thực tế với ngưỡng tối thiểu theo Nghị quyết số 28/2026/QH16. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

So sánh Tỷ lệ chi ngân sách nhà nước hằng năm cho phát triển văn hóa thực tế với ngưỡng tối thiểu theo Nghị quyết số 28/2026/QH16. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vì đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt đầu tư tư nhân, nên Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ ưu tiên nâng cấp hạ tầng các di sản văn hóa vật thể, di tích quốc gia đặc biệt để làm bệ đỡ phát triển kinh tế di sản. Thực tiễn thành công từ cố đô Huế với doanh thu bán vé tham quan đạt 422 tỷ đồng và kỷ lục đón tiếp khách du lịch của Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam đạt 40.000 lượt khách/ngày đã chứng minh: Bảo tồn nguyên trạng di tích lịch sử luôn đồng hành chặt chẽ với việc tạo sinh kế bền vững cho nhân dân địa phương. Thông qua nâng cấp hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, người dân ở vùng biên giới, hải đảo và đồng bào dân tộc thiểu số sẽ được cải thiện cơ bản mức độ hưởng thụ văn hóa tinh thần, hiện thực hóa mục tiêu phát triển bao trùm “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Hội Gióng đền Sóc Sơn là một lễ hội lớn hằng năm với sự tham gia của nhiều làng lân cận trong vùng và được người dân chuẩn bị từ rất sớm.

Hội Gióng đền Sóc Sơn là một lễ hội lớn hằng năm với sự tham gia của nhiều làng lân cận trong vùng và được người dân chuẩn bị từ rất sớm.

Nguồn vốn ngân sách nhà nước tuy giữ vai trò chủ đạo, nhưng không thể bao phủ toàn bộ nhu cầu khổng lồ của nền công nghiệp văn hóa hiện đại. Để giải quyết dứt điểm nút thắt về vốn đầu tư, Nhà nước cần hoàn thiện thể chế thu hút mạnh mẽ các nguồn ngoại lực thông qua cơ chế hợp tác công - tư (PPP). Các doanh nghiệp tư nhân cần được khuyến khích tham gia đầu tư phát triển các dự án văn hóa, nghệ thuật quy mô lớn dưới các mô hình vận hành tiên tiến như “lãnh đạo công - quản trị tư”, “đầu tư công - quản lý tư”.

Các concert âm nhạc không chỉ là những "bữa tiệc" giải trí, mà còn góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển. Ảnh: TTXVN

Các concert âm nhạc không chỉ là những "bữa tiệc" giải trí, mà còn góp phần thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển. Ảnh: TTXVN

Thời gian vừa qua, Quốc hội đã ban hành đồng bộ 10 nhóm cơ chế chính sách ưu đãi đột phá cho công nghiệp văn hóa bao gồm: Áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng ưu đãi 5%, miễn thuế nhập khẩu trang thiết bị kỹ thuật chuyên dụng phục vụ sáng tạo văn hóa nghệ thuật, ưu đãi tiếp cận quỹ đất sạch xây dựng phim trường và nhà hát, đổi mới triệt để cơ chế đặt hàng và khoán chi toàn diện đối với sản phẩm văn hóa, nghệ thuật. Sự chia sẻ rủi ro công bằng giữa Nhà nước và nhà đầu tư tư nhân là điều kiện tiên quyết để khơi thông dòng vốn đầu tư mạo hiểm xã hội hóa.

Lộ trình và Mục tiêu tăng trưởng tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Lộ trình và Mục tiêu tăng trưởng tỷ lệ đóng góp GDP của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ mục tiêu: Các ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo phải đạt mức đóng góp trực tiếp 7% GDP quốc gia vào năm 2030, tiến tới đạt mốc 9% GDP vào năm 2045. Sáu lĩnh vực trọng tâm có tiềm năng thế mạnh và chiếm hơn 70% tổng doanh thu toàn ngành bao gồm: Điện ảnh, Nghệ thuật biểu diễn, Trò chơi điện tử, Du lịch văn hóa, Quảng cáo và Thủ công mỹ nghệ. Để đạt được các mục tiêu lượng hóa rất cao này, việc xây dựng và đăng ký từ 5 đến 10 thương hiệu văn hóa quốc gia uy tín có sức cạnh tranh quốc tế là nhiệm vụ bắt buộc của toàn bộ chuỗi giá trị văn hóa Việt Nam.

Tự hào là sân khấu “thực cảnh” đầu tiên tại Việt Nam, Tinh hoa Bắc Bộ nhằm tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt, khiến mỗi du khách nhất định phải xem khi đặt chân đến Hà Nội. Ảnh: Tinh hoa Bắc Bộ-The Quintessence of Tonkin

Tự hào là sân khấu “thực cảnh” đầu tiên tại Việt Nam, Tinh hoa Bắc Bộ nhằm tôn vinh vẻ đẹp văn hoá Việt, khiến mỗi du khách nhất định phải xem khi đặt chân đến Hà Nội. Ảnh: Tinh hoa Bắc Bộ-The Quintessence of Tonkin

Để theo dõi trực quan và kiểm soát hiệu quả tiến độ thực thi các quyết sách lớn về văn hóa, Ban Chỉ đạo Trung ương sử dụng hệ thống chỉ tiêu lượng hóa cụ thể làm căn cứ nghiệm thu và giám sát trách nhiệm giải trình của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền địa phương:

Hệ thống chỉ tiêu định lượng chiến lược trong công tác lập kế hoạch và giám sát đầu tư văn hóa quốc gia. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Hệ thống chỉ tiêu định lượng chiến lược trong công tác lập kế hoạch và giám sát đầu tư văn hóa quốc gia. Nguồn: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Để giải phóng hoàn toàn tiềm năng sáng tạo của dân tộc và bứt phá thành công trong kỷ nguyên mới, đổi mới thể chế và giải phóng nguồn lực văn hóa là nhiệm vụ cách mạng cấp bách. Chính vì văn hóa là hồn cốt của dân tộc, nên đầu tư cho văn hóa chính là đầu tư dài hạn cho tương lai, để đất nước tự cường. Do đó, mỗi cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là người đứng đầu trong hệ thống chính trị, phải coi công tác phát triển văn hóa và công nghiệp văn hóa là tiêu chí đánh giá năng lực cầm quyền. Sự quyết tâm, đồng thuận và phối hợp nhịp nhàng giữa Nhà nước, thị trường và xã hội sẽ là bảo chứng vững chắc nhất đưa nền văn hoá Việt Nam cất cánh trong kỷ nguyên phát triển mới của toàn dân tộc.

Nội dung: PGS, TS TRẦN QUANG DIỆU
Ảnh: TTXVN, vanmieunighttour.com
Kỹ thuật, đồ họa: TÔ NGỌC-VĂN DUYÊN

Nguồn QĐND: https://media.qdnd.vn/long-form/van-hoa-tu-mach-nguon-dan-toc-den-suc-manh-quoc-gia-bai-3-khoi-thong-the-che-giai-phong-nguon-luc-phat-trien-van-hoa-64468