Lược ghi bộ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông chùa Đa Bảo
Nay, bản Tông thông này chú trọng vào tu hành, chứng ngộ, thực môn và vạn hạnh mà chư Tổ trong tông môn đều tham cứu. Nay, đối chiếu kinh văn nay với mạch chính, có đoạn chương và chữ khác thì ghi ở bên lề, thêm thì ghi ở trong.
Tác giả: Thượng tọa Thích Thanh Phương
Trụ trì chùa Sủi - Hà Nội
Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số tháng 03/2026

Chùa Đa Bảo - Ảnh: Sưu tầm
1. Mộc bản bộ kinh Lăng Nghiêm tông thông
Mộc bản bộ Lăng nghiêm kinh tông thông ở chùa Đa Bảo hiện còn lưu giữ 259 ván, gồm 10 quyển cộng với quyển Thủ.
Do mới san khắc một thế kỷ (1) nên tình trạng ván còn khá tốt, một số ván bị nứt mục.
Người đứng san khắc và năm in theo bài Tựa đầu sách là Sa môn Thích Thanh Khải tức Quảng Khải, trụ trì chùa Đa Bảo đời thứ 5, soạn năm Khải Định 9 (1924), nên tính đó là năm in.
Số lượng phân theo từng quyển như sau: Q.thủ: 2 ván ; Q1: 24 ván; Q2: 26 ván; Q3: 27 ván; Q4: 27 ván; Q5: 25 ván; Q6: 29 ván; Q7: 17 ván; Q8: 38 ván; Q9: 18 ván; Q10: 26 ván.
Về tổ Thích Thanh Khải, pháp húy tự Quảng Khải (Thanh Khải), hiệu Hiển Dương luật sư. Quê Bút Sơn, họ Vũ, sam học ở Lãng Lăng, Thiên Sơn. Về trấn chỉnh, kế đăng Ða Bảo. Khắc kinh Pháp Hoa; Văn Cú; Lăng Nghiêm Tông Thông, đúc chuông, xây giảng đường; 60 tuổi viên tịch.
Bộ Lăng Nghiêm Tông Thông là bộ kinh lớn do chùa Đa Bảo san khắc, và do Sa môn Thích Quảng Khải viết tựa, cũng có ghi cung tiến nhiều vị tôn sư ở nhiều sơn môn như Phúc Lâm, Đa Bảo, Kim Sơn, Bồ Đề như sau: (các vị thuộc sơn môn Đa Bảo in chữ nghiêng): “Nam mô Tiền Tổ tháp, Tỳ kheo tự Minh Lãng, hiệu Thích Hồng Hồng Bồ Tát, tôn tọa.
Nam mô Thụy Quang tháp, Trúc Lâm đầu đà, Thượng đức Quốc sư Hòa thượng, tự Chân Nghiêm, thiền tọa.
Nam mô Thắng Nghiêm tháp, Từ Tế Hoằng Thông, toàn thân hiếu nghĩa, tịnh trí viên minh, nhuận trạch tâm địa, phú thanh thanh, thúy trúc mật hiển, Thiền sư Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Tùy Quang tháp, Sa môn Tâm Địa, pháp húy tự Chiếu Khai, Thích Thân Thân Thiền sư, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Từ Nghiêm tháp, Sa môn tự Phổ Phụng, hiệu Minh Triết, Thích Chiêu Chiêu Thiền sư, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Liên tháp, Từ Tâm Mật Hạnh, Trí Tính Viên Minh, Ma ha Tỳ kheo tự Phổ Thiền, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Nghiêm tháp, Ma ha Sa môn tự Bảo Đỉnh, Thích Thông Giám Thiền sư, nhục thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Sở tháp, Tri Túc Sa môn tự Tâm Khang, Thích An Lạc Thiền sư, Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Trai Thành tháp, Sa môn pháp húy tự Thông Hạ, hiệu Minh Duệ, Thích Chân Chân Thiền sư, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Viên Mãn tháp, Sa môn pháp húy tự Thông Tín, hiệu Minh Kính Thiền sư, Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Nghiêm tháp, Sa môn pháp húy tự Thông Viên, hiệu Minh Trí Thiền sư, Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Tịnh Niệm tháp, pháp húy tự Thông Sự, hiệu Minh Văn Thiền sư, Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bồ Đề tháp, Thiên Sơn tự, Ma ha Sa môn tự Nguyên Biểu, hiệu Nhất Thiết Thiền sư, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Cảm Ứng Đạo Giao, pháp húy tự Tâm Quang, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Tích tháp, Sa môn tự Quảng Ích, nhục thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Tứ Y tháp, Động Triệt Sa môn, pháp húy tự Tâm Chính, hóa thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Quang tháp, Tri Túc Sa môn, pháp húy tự Nguyên Uẩn, hiệu Trí Nhu Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Đông Quang Bảo tháp, Trác Trịnh Sa môn tự Thanh Thiệu, Thích Hưng Long Thiền sư, nhục thân Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Bảo Vân tháp, Kim Động Sa môn tự Nguyên Mỹ, Bồ Tát, thiền tọa.
Nam mô Hưng Long tháp, Trác Liễu Sa môn tự Thanh Dương, Bồ Tát, thiền tọa.
Về thợ san khắc cuối phần phương danh của quyển cuối tức quyển 10 ghi “Thanh Liễu xã tượng chủ phó Lân phụng san”.
2. Giới thiệu bài lược ghi khi khắc bộ kinh Lăng Nghiêm tông thông
Nguyên văn chữ Hán
楞嚴經宗通書刋畧記 佛頂經者、本元覺海。馬祖師曰、在纏名如來
藏、出纒名淨法身。法身無窮、轉無等輪、超於數量、在在處處。有為家依、無為家用。經云: 汝先答我: 見光明拳此拳。此拳光明因何所有、 云何成拳。汝將誰見。了云我與大眾同將眼見、 然見者。
原此楞嚴經宗通南越未有何方刋板。 食菩提 嚴親云: 安寧儈供得於補陀、海幢寺藏、粵東來 由西竺、原本計每紙二十行、每行二十二字、經 文頂格、註低一字、書同一樣。
今遵菩提祖師應世時、命法子比丘戒清啟、心 淨源泰、共鈔。囑云、賜汝等刊、永流通寶。初 命時、以紙板通法華經為便、計紙二十行、每行 二十字、經文頂格大書、註文書低一字雙行、閒 有小註字參在經文中者、仍依其舊。始命說中、 有監院尊僧廣益白云: 用華嚴板通為大。祖師許 之。今奉兩旨、一奉華嚴板通、其字為大用助老 看、一奉法華方式、用紙便儀。按指奉書為此板 每紙十八行、計行十八字、頂格經文大書、註通 書低一字兩脚。
荏苒至茲、拜佛經律僧伽修證定刋。記知本跡 將來經了義。寶龕祖師云: 刋於多寶。圓明智師 云: 宗通說、古人云: 吾人不可一日不見性、卽不 可一日不讀楞嚴。良此經圓通顯密貫徹宗說。諸 禪宗律祖、拈頌杲分、公案解行。至南嶽鳳儀錄 而通記、故號宗通。惟佛設卦觀、能大能小、能 方能圓、覺生究竟、深心疏、正脈主專、信解真 修了義三如來藏。
茲宗通主注行證實門萬行宗門諸祖齊參。今經 文對正脈有斷章钩異字記于傍、加書於臍經中。 序分、正宗、流通三分并阿難啟請佛說三名: 奢 摩他、三摩、神那及略杲科依臍臨交、易曉為識 誦持。披黄老精神入妙、始見波斯匿王、輒閔 宮牆之望。會梓工鐫刻旨陳、中得文殊揀選、琅 聞金玉之音。夫經名大佛頂、具有洪闊、包含、 周徧、眾多、深奥、元始、恆常、超勝八義。尊 貴、弦妙二義如來表之。具斯十義為大經也。
密因為大因。當經中阿難所請三名、妙奢摩 他、體空藏、不空藏、不空藏、顯三如來藏。卽 定用見道分也。
了義為大義、當經中阿難所請三名妙三摩提、 體依妙心一門深入。卽慧用修道分也。
萬行為大行、當經中阿難所請三名妙禪那、體圓歷位。卽定慧全用證果分也。 楞嚴為本覺究竟二大果悔故。又密因、是理。
了義是敎。萬行是行。楞嚴是果。是欲受持此經者、依大敎而解大理、稱大理以起大行、滿大行 而成大果故。
嗚呼、眾生輪廻諸趣、皆由未了義密因、是以 如來出世開示藏心。諸祖頌記說通。鳳儀輯註宗 通、蓋欲眾生悟入、徧知圓。是虛妄浮塵當下消 亡、則身心圓明坐道場矣。緣乎得會見給孤長者 祇樹桓中、二十五聖陳悟入門。我佛一時說法儼 然未散、而神之化梵音震響、眾生隨類各得解脫 也。仍念法寶有緣、發刊於己未春。喜告成、自 元來云。
繼燈多寶寺住持佛子清啟拜記。 同證刋: 金山派羅舍寺具壽字心海隨喜百元。多寶派天帝寺具壽字清會隨喜百元。河內靈光寺具壽先住乾陀。
奉刊: 會溪寺和尚字心淨供銀一百元。朗陵寺 沙門字源泰供銀八十元。
奉校句書臍界音: 多寶寺佛子清啟。 一護刋: 富殷寺比丘字源煙供伍拾元。
書手: 取卷、卷二比丘廣遜。卷十比丘情安。 卷自十三紙、卷三至卷九、比丘廣湛。中卷五卷 七比丘清塔。
皇王啟定玖年甲子拾壹月彌陀聖誕日拜記。

Bia chùa Đa Bảo - Ảnh: Sưu tầm
Dịch nghĩa
Lược ghi việc khắc in kinh Lăng Nghiêm tông thông thư
Kinh Phật đỉnh (2), vốn là Giác hải (3). Sư Mã Tổ (4) nói: Khi bị bó buộc (5) thì gọi là Như Lai tạng, khi ra khỏi bó buộc thì gọi là Tịnh tháp thân. Pháp thân thì vô cùng (6), chuyển luân cũng không ngừng, vượt ngoài mọi số lượng, ở đâu cũng có. Pháp hữu vi là chỗ nương tựa cho đời, pháp vô vi làm chỗ dụng cho đời. Kinh nói: “[A Nan] trước ngươi hãy trả lời ta: Thấy nắm tay chói sáng. Vậy cái sáng chói của nắm tay này do đâu mà có? Làm sao thành nắm tay? Ông lấy gì để thấy? [A Nan] đáp: Con và đại chúng đều dùng con mắt để nhìn nên thấy” (7).
Nguyên kinh Lăng Nghiêm tông thông này ở Nam Việt vốn chưa từng có bản khắc nào. Thực Bồ đề nghiêm thân nói: Nhờ nhân duyên cúng dường ở Yên Ninh mà được kinh tạng ở chùa Bổ Đà, chùa Hải Chàng. [Bản này] từ Tây Trúc truyền sang Việt Đông. Nguyên bản gốc mỗi tờ có 20 hàng, mỗi hàng 22 chữ, kinh văn sát lề trên, chú giải thấp xuống một chữ, chữ viết đồng một kiểu chữ.
Nay tuân theo lời dạy của Bồ đề tổ sư khi còn ứng thế, sai Pháp tử là Tỷ khiêu Thanh Khải và Tâm Tịnh Nguyên Thái cùng chép lại. Dặn rằng: “Ban cho các ngươi khắc in, để làm pháp bảo lưu
thông mãi mãi”. Lúc mới nhận lệnh, định dùng giấy bản giống với kinh Pháp Hoa làm cho tiện, mỗi tờ 20 hàng, mỗi hàng 20 chữ, kinh văn theo kiểu chữ lớn, chú giải thấp xuống một chữ song hành, trong đó có chữ chú thích nhỏ xen lẫn trong kinh văn, còn lại thì cứ giữ y như cũ.
Nói về lúc đầu nhận mệnh, có vị tăng Giám viện pháp hiệu Quảng Ích bạch rằng: Nên dùng khổ bản giống như của kinh Hoa Nghiêm. Tổ sư đồng ý. Nay vâng theo hai chỉ dẫn: một là giống như bản Hoa Nghiêm, để chữ lớn giúp cho người già dễ đọc; hai là dùng lối Pháp Hoa, để tiện việc sắp giấy. Cứ theo sự chỉ định đó, bản này mỗi tờ 18 hàng, mỗi hàng 18 chữ, kinh văn theo lối chữ lớn, lời chú trong toàn sách giải thấp xuống một chữ.
Thấm thoát đến nay, nhờ Tăng già tu chứng mà bản kinh Phật đã được san định. Ghi lại để về sau biết rõ ý nghĩa gốc tích của bản kinh. Tổ chùa Bảo Khám nói: Khắc ở chùa Đa Bảo. Trí sư Viên Minh nói: Tông thông thuyết rằng, người xưa nói: Con người ta không thể một ngày không kiến tính, tức là không thể một ngày không đọc Lăng Nghiêm. Vì kinh này xuyên suốt đều thuyết rõ ràng về “viên thông hiển - mật (8)”. Các vị Thiền tông và Luật tổ (9) phân chia rạch ròi thành kệ tụng và công án (10) giải hành (11). Đến ngài Nam Nhạc Phượng Nghi ghi chép thông suốt, nên gọi là Tông thông.
Chỉ có đức Phật mở bày quán xét, có thể lớn có thể nhỏ, có thể vuông có thể tròn, giác ngộ cứu cánh, thâm tâm cầu đạo, chính mạch chủ truyền, tín giải chân tu, làm rõ ba nghĩa của Tam Như Lai tạng (12).
Nay, bản Tông thông này chú trọng vào tu hành, chứng ngộ, thực môn và vạn hạnh (13) mà chư Tổ trong tông môn đều tham cứu. Nay, đối chiếu kinh văn nay với mạch chính, có đoạn chương và chữ khác thì ghi ở bên lề, thêm thì ghi ở trong. Kinh chia làm ba phần gồm: Tựa, Chánh tông và Lưu thông kèm theo lời A Nan thỉnh hỏi về Phật thuyết tam danh (14), gồm: Sa ma tha, Tam ma, Thần na, tất cả đều được lược theo khoa cho dễ hiểu, để nhận biết khi tụng trì. Khi tinh thần của bậc Hoàng Lão (15) đi vào chỗ vi diệu, mới thấy rõ nỗi cảm hoài như vua Ba Tư Nặc (16) ngậm ngùi trông ngóng nơi cung tường. Đến lúc họp thợ khắc, nhận được chọn lọc của Văn Thù, âm ngân nghe như tiếng vàng ngọc.
Ôi! Tên kinh là Đại Phật đỉnh, gồm 8 nghĩa: hồng khoát, bao hàm, chu biến, chúng đa, thâm úc, nguyên thủy, hằng thường, siêu thắng và hai nghĩa: tôn quý, huyền diệu mà Như Lai đã biểu thị. Đủ mười nghĩa nên là Đại kinh vậy.
“Mật nhân” là nguyên nhân lớn. Trong kinh A Nan thỉnh hỏi về Diệu Sa ma tha (17) trong Tam danh, về Thể không tạng và Bất không tạng. Bất không tạng là để hiển hiện rõ Tam Như Lai tạng (18). Đây là phần dùng để phân rõ kiến đạo (19).
“Liễu nghĩa” là nghĩa lớn, trong kinh A Nan hỏi về Diệu tam ma đề (20) trong Tam danh, là cửa để nương vào mà thâm nhập vào diệu tâm. Đây là phần dùng trí tuệ để tu đạo (21).
“Vạn hạnh” là hạnh lớn, trong kinh A Nan hỏi về Diệu Thiền na (22) trong Tam danh, tròn khắp các vị. Đây là phần dùng định tuệ để chứng quả (23).
Lăng Nghiêm là gốc của giác ngộ và là cứu cánh của hai đại quả (24). Lại nói về “mật nhân”, chính là lý. “Liễu nghĩa” là dạy. “Vạn hạnh” là hạn. Lăng Nghiêm là quả. Vì vậy muốn thụ trì kinh này, phải nương vào đại giáo mà lý giải đại lý, nên gọi là “đại lý” là cái để khởi “đại hạnh”. “Đại hạnh” viên mãn thì “đại quả” thành.


Than ôi! Chúng sinh luân hồi trong các nẻo, đều do chưa hiểu rõ “mật nhân”, cho nên đức Như Lai xuất thế nhằm khai thị Tạng tâm. Chư Tổ làm kệ làm ký nhằm thuyết cho thông. Ngài Phụng Nghi biên chú thành Tông thông, cốt là muốn chúng sinh ngộ nhập, tất cả đều hiểu biết tròn đầy. Cho nên cõi trần hư vọng liền tiêu vong, thân tâm sáng tỏ ngồi đạo tràng.
Duyên lành được thấy Trưởng giả Cấp Cô Độc trong rừng cây của Thái tử Kỳ Đà cùng 25 vị thánh vào cửa khai ngộ. Thời đức Phật ta thuyết pháp còn đó vẫn chưa tan, mà tiếng thần hóa Phạm âm vang vọng, chúng sinh tùy loại đều được giải thoát. Nghĩ đến việc có duyên với Pháp bảo, nên vào mùa Xuân năm Kỷ Mùi phát hành bản này. Vui mừng việc thành công. Tự ghi lại duyên cớ.
Kế đăng trụ trì chùa Đa Bảo Thanh Khải kính ghi. Cùng chứng san khắc:
Sư cụ tên tự Tâm Hải chùa La Xá, phái Kim Sơn tùy hỷ 100 đồng.
Sư cụ tên tự Thanh Hội chùa Thiên Đế, phái Đa Bảo tùy hỷ 100 đồng.
Sư cụ trước trụ trì chùa Càn Đà, chùa Linh Quang Hà Nội.
Phụng san khắc kinh:
Hòa thượng tên tự Tâm Tịnh chùa Hội Kê cúng bạc 100 đồng.
Sa môn tên tự Nguyên Thái chùa Lãng Lăng cúng bạc 80 đồng.
Phụng khảo câu cú và giới âm: Phật tử Thanh Khải chùa Đa Bảo.
Trợ giúp san khắc kinh: Tỷ khiêu Nguyên Yên chùa Phú Ân cúng 50 đồng.
Người chép: Quyển thủ, quyển 2 là Tỷ khiêu Quảng Tốn. Quyển 10 là Tỷ khiêu Tình An. Quyển từ tờ 13, từ quyển 3 đến quyển 9 là Tỷ khiêu Quảng Trạm. Quyển trung, từ quyển 5 đến quyển 7 là Tỷ khiêu Thanh Tháp.
Ngày vía đức A Di Đà (17) tháng 11 năm Khải Định thứ 9 (1924) kính ghi.
Tác giả: Thượng tọa Thích Thanh Phương - Trụ trì chùa Sủi - Hà Nội
Tạp chí Nghiên cứu Phật học Số tháng 03/2026
Chú thích:
(1) Căn cứ bài tựa sách ghi năm 1924.
(2) Kinh Thủ Lăng Nghiêm tông thông ghi: Đời Minh, Bồ Tát giới đệ tử tiền Phụng Huấn đại phu, Lễ bộ Từ tế Thanh Sử tư Viên Ngoại lang, Nam Nhạc tăng Phụng Nghi Tông Thông. Thông rằng: Kinh này tại sao lại đặt tên là “Đại Phật đỉnh, Như Lai Mật Nhân, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh, Thủ Lăng Nghiêm”. Kinh chép: “Khi ấy, Đức Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử từ trong đại chúng, rời khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ chân Phật mà thưa rằng: “Phải gọi kinh này tên gì? Tôi cùng với chúng sinh làm thế nào phụng trì?”. Phật dạy Văn Thù Sư Lợi rằng: “Kinh này tên Đại Phật đỉnh, Tát Đát Đa Bát Đát Ra, ấn báu vô thượng, hải nhãn trong sạch của mười phương Như Lai”.
(3) Trong mục 2 phần 2 kinh Lăng Nghiêm tông thông, tổ Ngưỡng Sơn trả lời vị đạo nhân rằng: “Để tôi vì ông dùng nghĩa mà giải thích ra. Đây là tám loại Tam muội: ấy là Giác hải, biến làm Nghĩa hải, Thể đồng như nhau. Cái Nghĩa này có nhân có quả; Tức thời, Khác khời; Tổng tướng, Biệt tướng chẳng rời ẩn thân Tam muội”. Nếu biết cái Tam muội Giác hải biến ra Nghĩa hải của ngài Ngưỡng Sơn, thì chữ Vạn nơi ngực của Phật phóng ánh sáng quý báu cũng là diệu dụng trong cái Bất tư nghị, ắt phải được cái tâm tính diệu mật sáng sạch làm cội gốc vậy.
(4) Tức Mã Tổ Đạo Nhất (709 - 788), quê ở huyện Thập Phương. Lúc nhỏ, xuất gia với Hòa thượng Ðường ở Từ Châu, thụ giới Cụ túc ở Du Châu. Sau, Sư đến Hoành Nhạc ngày ngày tu tập thiền định. Cũng tại núi này, Sư gặp Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng và là người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Từ sau thời Lục tổ Huệ Năng, Sư là người đem lại cho Thiền tông Trung Quốc một sắc thái đặc biệt. Sư chuyên sử dụng những phương pháp quái lạ để dạy học trò. Người đời sau vì quý trọng nên gọi là Mã Tổ.
(5) Có thể hiểu là những phiền não, những gì trói buộc con người, gây chướng ngại trên con đường đạt giải thoát.
(6) Tức là bản thể của tự tính cùng khắp không gian thời gian, nó vô hình vô thanh, mà hay hiện hình hiện thanh, như như bất động mà cùng tột biến hóa, tất cả năng lực đều sẵn đầy đủ.
(7) Câu này trích trong kinh Lăng Nghiêm tông thông, quyển 1.
(8) Hiển giáo và Mật giáo. Cũng gọi Hiển mật, Hiển lộ bí mật, Hiển thị bí mật. Giáo pháp được hiển bày bằng ngôn ngữ văn tự, gọi là Hiển giáo. Giáo pháp bí mật, không thể căn cứ vào ngôn ngữ, văn tự mà hiểu được, gọi là Mật giáo
(9) Hai tông phái Phật giáo. Thiền Tông bắt đầu từ Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là vị khai tổ, Ngài Ca Diếp nhận lãnh truyền thừa trở thành tổ sư thứ nhất. Luật Tông là một pháp môn Phật giáo Trung Quốc do Ngài Đạo Tuyên sáng lập.
(10) Trong Thiền môn, công án có nghĩa là đạo lý của Phật pháp mà chư Phật tổ đã khai thị, và được xem như là vấn đề mà hành giả phải gạt qua các phân biệt phàm tình để tham cứu và liễu ngộ. Việc đề xướng ra công án được khởi đầu dưới thời nhà Đường, đến thời nhà Tống thì trở nên thịnh hành. Có hai loại công án là Cổ rắc công án và Hiện thành công án. Theo đó, Cổ tắc công án do Đại Huệ Tông Cảo dùng có nghĩa là công án hay phương tiện công phu của cổ nhân đã từng dụng công rất nhiều để dẫ dắt hành giả đạt đến sự giác ngộ hay chân lý không thể thay đổi ấy. Hiện thành công án có nghĩa là cái hiển hiện ngay trước mắt chúng ta mà hình thành nên. Cho nên Hiện Thành Công Á có nghĩa là tất các sự vật, hiện tượng hay các pháp mà hiển hiện và hình thành nên ngay trước mắt chúng ta đều là sự giác ngộ hay chân lý bất di bất dịch. Từ đó ta có thể thấy được sự khác nhau giữa hai bản chính pháp nhãn tạng
(11) Chỉ cho Trí giải và tu hành: nhờ sự học tập mà tri giải được giáo lý.
(12) Theo thuyết trong Đại thừa chỉ quán pháp môn, quyển 1, Như Lai tạng có 3 nghĩa: 1. Năng tàng: Pháp thân của quả đức và tịnh tâm của tính tịnh, bao gồm 2 tính nhiễm, tịnh và 2 sự nhiễm, tịnh nhưng không bị ngăn ngại. 2. Sở tàng: Tâm tự tính thanh tịnh bị cái vỏ của vô minh bao phủ. 3. Năng sinh: Tâm thể này có cái dụng của 2 tính nhiễm và tịnh, đồng thời có sức huân tập (xông ướp) của 2 thứ nhiễm và tịnh, có khả năng sinh ra các pháp thế gian và xuất thế gian.
(13) Chi cho hạnh mà một vị Bồ Tát cần phải tu tập để diệt trừ si mê và đạt thành quả vị Phật.
(14) Ba phương pháp tu hành.
(15) Hoàng Lão, từ gọi chung Hoàng đế và Lão tử. Tại Trung Quốc, vào thời đại Đông Hán, tư tưởng Đạo gia thịnh hành, tín đồ Đạo giáo tôn sùng quyền uy của Lão tử nên kết hợp Lão tử với Hoàng đế. Về sau, Phật giáo truyền bá ở Trung Quốc, nhất là vào giai đoạn đầu, các sư cũng đã từng mượn tư tưởng Hoàng Lão để giải thích lý nghĩa của Phật giáo.
(16) Là vua nước Kiều Tát La thuộc trung Ấn Độ, cùng thời đại với đức Thế Tôn. Vua ở thành Xá Vệ, là nhà ngoại hộ lớn của giáo đoàn đức Thế Tôn, kiêm lãnh nước Ca Thi, là một đại cường quốc ngang hàng với nước Ma Yết Đà. Cứ theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 26 chép, thì đức Như Lai thành đạo chưa bao lâu, vua Ba Tư Nặc lên ngôi, muốn cưới con gái dòng họ Thích làm vợ, Ma Ha Nam, thuộc dòng Thích Ca, bèn chọn một người tì nữ gả cho, nhà vua lập làm đệ nhất phu nhân, sinh người con đặt tên là Tì Lưu Lặc. Nhà vua lúc đầu bạo ác, không tin, sau khi qui y Phật, nhờ Phật giáo hóa luôn, nên dốc lòng tin Phật Pháp,
(17) Hàng Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tính viên giác thanh tịnh vốn có của mình. Lấy sự tỏ ngộ ấy làm đối tượng trụ tâm. Từ đó, vọng niệm đứng lặng, tuệ giác phát sinh, nhận biết phiền não nội tâm chỉ là thứ khách trần. Xả bỏ được tính chấp nặng nề, tâm hành giả bèn có được trạng thái khinh an tịch tĩnh. Bấy giờ tâm của chư Phật hiển hiện vào như hình tượng ảnh hiện trong gương. Thực hiện phương thức nầy thành tựu, gọi đó là pháp môn phương tiện Sa Ma Tha.
(18) Ba nghĩa của Như Lai tạng. Như Lai tạng chỉ cho tâm tự tính thanh tịnh ẩn chứa trong thân tạp nhiễm của tất cả hữu tình.
(19) Chỉ cho giai vị tu hành dùng trí vô lậu quán xét Tứ đế để thấy rõ chân lý. Từ Kiến đạo trở về trước là phàm phu, từ Kiến đạo trở về sau là bậc Thánh. Là một trong Tam đạo, ba giai vị của hàng Thanh văn và Bồ tát.
(20) Hàng Bồ tát phải sử dụng giác tâm nhận thức căn trần đều là huyễn hóa. Lấy huyễn tâm trừ huyễn cảnh, lấy huyễn trí giải hóa huyễn tâm. Bừng tỉnh giác biết rằng thân tâm cảnh giới đều hư huyễn. Bấy giờ tâm hành giả được trạng thái khinh an đại bi. Theo đà phát triển của giác tâm thanh tịnh tăng tiến tu hành trưởng dưỡng quán trí như đất nuôi mạ. Thành tựu hiệu lực như thế, gọi đó là pháp môn phương tiện Tam Ma đề.
(21) Giai đoạn tiếp theo sau giai đoạn Kiến đạo trong quá trình tu tập.
(22) Hàng Bồ tát sử dụng giác tâm trừ chấp. Xóa bỏ cái thấy biết huyễn hóa. Xóa bỏ cái nhận thức thanh tịnh của giác tâm. Không để cho ngăn ngại vì cái biết và cái không biết. Vượt qua tất cả các ngại. Thân tâm hiện hữu trên cõi đời mà Niết bàn và phiền não không trở ngại gì nhau. Ví như tiếng ngân vang của chuông từ chuông mà có, nhưng tiếng và chuông không hề ngăn ngại cho nhau. Lúc bấy giờ hành giả phát ra sự khinh an tịch diệt, tùy thuận diệu tính Viên Giác. Ở trong cảnh tịch diệt, ý niệm vọng chấp: ta, người, chúng sinh và thọ mạng trở thành phù hư không còn công dụng. Thành tựu được hiệu lực như thế, gọi đó là pháp môn tu tập Thiền na.
(23) Chỉ sự chứng vào quả vị. Tức đem chính trí khế hợp chân lý mà tiến vào các quả vị Phật, Bồ tát, Thanh Văn và Duyên giác.
(24) Quả tức là quả báo, kết quả hình thành từ nhân, có hai loại quả báo nên gọi là Nhị quả, có nhiều thuyết khác nhau khi giải thích. Theo Câu Xá Lợi luận quyển 3, Nhị quả gồm Tập khí quả và Báo quả, hai quả báo này tương đương với Đẳng lưu quả, Dị thục quả trong Đại minh Tam tạng pháp.











