Ngày xưa có một chuyến tàu
Có một con đường nhỏ mà người lớn hay gọi là 'đường rầy xe lửa'. Một con đường nhỏ, tăm tắp chạy mãi về đâu đó. Nếu người lớn không gọi riết thành quen, lứa sinh sau đẻ muộn chúng tôi không bao giờ biết con đường ấy khi xưa là một đường tàu...
Thuở thiếu thời tôi sống ở nơi không có khái niệm tên đường hay số nhà trong thời gian dài. Nhiều khi cảm giác mỗi nóc nhà chỉ là những hòn đảo nhỏ dập dềnh tại chỗ giữa đại dương mà sóng triều đan xen sắc xanh của đồng lúa với sắc nâu sậm của những mái nhà tôn rỉ sét và một dải màu xam xám của đường nhựa chạy thẳng tắp phân chia hai sắc độ đối lập đó với nhau.
Hồi nhỏ mỗi lần đi xe ôm hay xe lôi chúng tôi thường không nói số nhà, tên đường, vì có đâu mà nói. Chúng tôi chỉ cần cho bác xe ôm biết mình muốn đi “khúc nào” thì lập tức họ biết chốn đó ở đâu, tính ngay ra giá cuốc còn nhanh hơn ứng dụng đặt xe bây giờ. Trước khi xe chuyển bánh cũng có màn trả giá cho vui nhưng nói chung thường người ta đã đi quen rồi, mà con người có phải máy móc đâu, đi gần đi xa hơn vài chục mét thật ra cũng chẳng thành chuyện để tranh cãi.
“Con ở khúc Nhà thờ”, “tôi ở chợ Bến Đá”, “chở dì tới ngã tư Đường Núi nhe con” hoặc “Rạp hát”, hoặc “Tiệm vàng XYZ”… nghĩa là người đi cũng chỉ muốn đến mấy cái nơi gần gần những chỗ đó thôi chứ không phải muốn đi coi hát hay đi mua vàng.
Ngay cả những chỗ có tên đường, số nhà, người ta cũng kiếm tìm một dấu mốc để xác định nơi đi chốn đến thay vì nói số nhà lạnh lẽo vừa khó nhớ vừa khó tìm. Người ta chỉ nhớ nhà bà Ba có cây sa kê trước cửa, nhà ông Mười có cái cổng màu xanh, thậm chí nhà bà Chín nhỏ nhỏ kế cái nhà bốn tầng… Tả vậy thôi mà người ta cũng nhận ra ở đâu. Tả như vậy vì trong mắt người ta ngôi nhà đó không chỉ là gạch đá vô tri, những chỗ che đầu lạnh lẽo để người ta đánh số. Đó là mái ấm của ai đó, của một gia đình, của nhiều thế hệ. Ngôi nhà không chỉ là những con số không gợi lên chút hình ảnh nào so với cái sức gợi của “nhà có hoa mimosa vàng” (tên một truyện ngắn của Hoàng Ngọc Tuấn).
Dù chuyện không có số nhà hay không nhớ số nhà có thể dẫn tới những bất tiện nhất định nhưng nó chưa bao giờ là chuyện khó với bác đưa thư, nhất là bác đưa thư người bản xứ vốn đã rành mọi con đường như lòng bàn tay.
Nhắc người đưa thư mới nhớ đến phim Ngọn núi đó, Con người đó, Con chó đó năm 1999 của đạo diễn Hoắc Kiến Kỳ. Một người đưa thư bình thường, nối nghiệp người cha, trên vai vác ba lô thư, cùng với chú chó dẫn đường, họ đưa thư, đưa bưu phẩm đến tận những vùng sâu vùng xa, nơi những ngôi nhà không số, nơi dưới mái nhà ẩn chứa những câu chuyện dưới sự chứng kiến của ngọn núi hùng vĩ lặng im.
*
Ngã tư Đường Núi là chỗ rời trung tâm thị xã để về một vùng dân cư dưới bóng ngọn núi Sam. Chợ Bến Đá là một cái chợ không biết có trong địa bạ địa chí hay không nhưng không có bảng hiệu gì, có cái danh ấy hẳn vì ngày xưa đó là bến tập kết đá khai thác của ngọn núi Sam (?)… Bên cạnh Bến Đá còn có những cái tên như Bến Vựa, chợ Đầu Bờ (cái chợ mà gần hai chục năm nay đã không còn)…
Những địa danh cứ dần dà hiện diện trong đời sống, trở thành một cột mốc, một phương hướng để định vị. Và cũng dần dà, khi thế hệ trước khuất xa, những cái tên ngày qua ngày phai nhạt trên đôi môi hậu thế, đến một lúc không còn ai biết đến nữa.
Tôi nhớ hồi nhỏ, có một con đường nhỏ mà người lớn hay gọi là “đường rầy xe lửa”. Một con đường nhỏ, tăm tắp chạy mãi về đâu đó. Nếu người lớn không gọi riết thành quen, lứa sinh sau đẻ muộn chúng tôi không bao giờ biết con đường ấy (hiện nay mang tên danh nhân) khi xưa là một đường tàu với những thanh tà vẹt, thanh ray; với những toa tàu miệt mài đi ngang, nhả vào không gian mùi khen khét khói, làm lung lay những ô cửa kính, trút vào đêm một hồi còi dài vút bay rồi khuất chìm trong tịch tĩnh.

Ảnh: Quách Tuấn Anh
Đôi khi tôi tự hỏi nếu nơi đó có đường tàu thì sân ga ấy ở đâu? Hẳn phải có một điểm bắt đầu và một điểm kết thúc. Nơi người ta lên và xuống, nơi hoa trái vùng này được nâng niu ở vùng khác, nơi có giọt nước mắt chia ly và có những giọt nước mắt đoàn tụ, có đi và có về, như đàn chim di thê. Chúng ta là loài di thê không biết bay trên Trái đất này, di thê như một định mệnh.
Tôi nhớ giáo phái Bieguni trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn đoạt giải Nobel - Olga Tokarczuk. Họ buộc phải không ngừng chuyển động. Còn hình ảnh nào đại diện cho sự chuyển động không ngừng ấy hơn những chuyến hỏa xa? Những toa tàu nối đuôi nhau, băng băng chạy trên đường ray với một sức mạnh như con trâu đen đúa vạm vỡ trên cánh đồng mùa nước nổi, tưởng như không có gì cản được.
Đối lập với sự không ngừng chuyển động là sân ga. Hãy tưởng tượng một sân ga “không ngừng chuyển động” hẳn thiên hạ sẽ đại loạn. Điều đó biến nó thành biểu tượng của sự kiên định, của đợi chờ. Nó ở đó như một trạm dừng, chuyển đổi giữa trạng thái chuyển di và đứng lại. Tôi nhớ trong văn học nghệ thuật không hiếm tác phẩm sử dụng mô-típ một sân ga như điểm chuyển tiếp giữa thế giới này qua thế giới khác, giữa thực tại và huyễn tưởng, từ thế giới an toàn sang thế giới bí ẩn, đầy bất trắc hiểm nguy. Một trung ấm giữa thiên đàng hay địa ngục. Hãy tưởng tượng một sân ga hoang vắng, không người, gió đìu hiu, sương khói là đà trên những đường ray, chỉ cần thế thôi cũng đủ gợi lên một không khí mờ ám, bất an.
Cũng may tôi chưa phải đứng ở một cái sân ga như vậy, nhất là vào ban đêm, dẫu có những bài hát về những chuyến tàu đêm, những sân ga của chia ly và đoàn tụ suốt mấy chục năm qua đã thi vị hóa cái hoang vắng của những sân ga, gắn chặt vào vài hình ảnh nỗi buồn của Những chiếc khăn mầu thổn thức bay/ Những bàn tay vẫy những bàn tay/ Những đôi mắt ướt nhìn đôi mắt/ Buồn ở đâu hơn ở chốn này? như trong bài thơ Những bóng người trên sân ga của Nguyễn Bính.
Tôi chưa bao giờ thấy ai khóc ở sân ga cả, có lẽ vì đời tôi ít đi tới những sân ga. Có lẽ vì tôi sinh ra ở một vùng đặc trưng sông nước, nơi người ta quen những chuyến phà, những chuyến đò dọc, đò ngang, của cái miên man khi lướt trên mặt sóng. Ở một chốn như thế, một sân ga nhỏ, một tuyến đường sắt dường như “lạc loài” giữa thế giới xung quanh con người ngợi ca sông nước. Trong cái thế giới sông nước đó, một con đường mang cái biệt danh “đường rầy xe lửa” thân thuộc trên môi mọi người hẳn vì nó từng có thời mang theo chút ánh sáng niềm vui khi kéo những toa tàu băng mình ngang thị xã vùng biên cảnh.
Đã gần 70 năm trôi qua kể từ ngày tuyến hỏa xa nối Sài Gòn - Mỹ Tho dừng hoạt động vào năm 1958. Trên khắp đồng bằng sông Cửu Long không còn bóng dáng của sân ga, các tuyến đường sắt. Tôi hỏi ba tôi về cái tên “đường rầy xe lửa” nhưng ba tôi chỉ biết đến vậy thôi, nghĩa là không biết gì. Nghĩa là từ rất lâu trên con đường nhỏ kia từng ngự trị một đường ray, rồi nó dừng hoạt động, rồi mọi thứ phai nhạt và biến mất, chỉ còn lại một khối mơ hồ.
Ở nơi tôi sống bây giờ, nếu hỏi các em sinh sau năm 2000 về con đường có biệt danh “đường rầy xe lửa” hẳn các em không biết nó ở đâu. Huyền thoại đã trôi rất lâu và đến một lúc nào đó sẽ vào quên lãng.
Đôi khi đi ngang con đường nhỏ đó, tôi lại nhớ đến cái biệt danh đang dần bị xóa nhòa của nó. Tôi hình dung cách nay 50 năm, 70 năm hoặc xa hơn nữa từng có một nhà ga nhỏ trồi lên giữa vùng đồng bằng trù mật này như một cái cây thời gian che tàn rợp mát cho những lữ khách lang thang, trạm dừng chân cho những cuộc bán mua, rồi chính thời gian bôi xóa nhà ga ấy trên mảnh đất này.
Bây giờ trên bản vẽ thiết kế, một tuyến đường sắt nối Sài Gòn và Mỹ Tho đang dần được thành hình. Sẽ lại có những sân ga. Sẽ lại có còi tàu. Sẽ lại có những bóng người trên sân ga đứng đón đưa nhau. Và trong những bóng người trên sân ga hẳn sẽ lại có những niềm vui lẻ loi và những nỗi buồn nho nhỏ như mấy bông cúc bé bỏng hay mọc lẫn vào cỏ, e ấp bên vệ đường, những bông cúc mà “tổ tiên” của chúng ngày xưa cũng quây quần thành một tiểu gia đình bên cạnh đường ray… đường ray mà bây giờ người ta đã quên lãng...
Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/ngay-xua-co-mot-chuyen-tau-51732.html











