Lượn Slương - Điệu hát yêu thương của người Tày
Trong kho tàng dân ca phong phú của dân tộc Tày, Lượn Slương là một trong những làn điệu đặc sắc, mang đậm chất trữ tình và giàu giá trị nhân văn. Trải qua bao thế hệ, những câu lượn mượt mà, sâu lắng vẫn ngân vang trong đời sống cộng đồng như một sợi dây kết nối tình người, lưu giữ hồn cốt văn hóa của đồng bào Tày Cao Bằng.
Điệu hát của tình yêu và lòng thương mến
Trong tiếng Tày, “Slương” có nghĩa là thương yêu. Vì vậy, Lượn Slương còn được gọi là “lượn thương” - điệu hát bày tỏ tình cảm, tâm tư của con người. Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, Lượn Slương xuất hiện từ rất sớm và được lưu truyền chủ yếu ở các huyện miền Đông của tỉnh Cao Bằng, đặc biệt là vùng Thạch An, Đông Khê, Quảng Uyên ngày nay.
Người Tày xưa thường hát Lượn Slương vào những dịp xuân về, lễ hội Lồng Tồng, ngày nông nhàn hoặc trong những đêm hội giao duyên của thanh niên nam nữ. Khi tiếng lượn cất lên, những câu hát đối đáp cứ nối dài từ đêm này sang đêm khác, trở thành cầu nối để trai gái tìm hiểu, bày tỏ tình cảm và gửi gắm ước mơ về hạnh phúc lứa đôi.
Bà Đinh Thị Đà, nghệ nhân dân gian ở xã Đông Khê chia sẻ: Ngày trước, mỗi khi bản làng mở hội hay sau những ngày lao động vất vả, trai gái trong vùng lại tìm đến các canh hát Lượn Slương. Có khi hát từ chập tối đến tận sáng hôm sau mà vẫn chưa muốn dừng. Qua câu hát, người ta làm quen, tìm hiểu nhau, gửi gắm tình cảm và cả những ước mơ về cuộc sống tốt đẹp. Nhiều đôi vợ chồng nên duyên cũng từ những đêm lượn như thế.
Không sôi nổi như tiếng sli, tiếng tính, Lượn Slương mang âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Lời ca giàu hình ảnh ví von, mượn núi rừng, hoa lá, chim muông để nói về tình yêu, tình bạn và nghĩa tình con người. Người hát không chỉ cần có giọng hát truyền cảm mà còn phải am hiểu tiếng Tày, biết ứng đối linh hoạt để nối tiếp mạch cảm xúc trong từng cuộc hát.
Chính sự tinh tế ấy đã khiến Lượn Slương trở thành một trong những làn điệu dân ca giao duyên tiêu biểu của người Tày. Trong từng câu hát là những rung động chân thành của tuổi trẻ, là tình yêu quê hương, bản làng và những giá trị nhân văn được trao truyền qua nhiều thế hệ.

Khi khách đến nhà, hát Lượn Slương bắt đầu bằng những câu hát chào hỏi ân cần, trao nhau miếng trầu, ngụm nước ấm tình làng nghĩa xóm.
Một "canh hát" kéo dài suốt đêm
Điểm đặc sắc và ấn tượng nhất của Lượn Slương chính là một “canh hát” trọn vẹn kéo dài từ lúc chạng vạng tối cho tới khi bình minh hửng sáng. Không đơn thuần là cuộc cất giọng ngẫu hứng, một canh Lượn Slương chuẩn mực được ví như một hành trình cảm xúc có mở đầu, phát triển, cao trào và lắng đọng.
Hành trình ấy bắt đầu bằng những câu hát chào hỏi ân cần, trao nhau miếng trầu, ngụm nước ấm tình làng nghĩa xóm. Khi sự e dè ban đầu dần tan biến, cuộc hát bước vào chặng giao duyên sôi nổi - nơi các đôi nam nữ trao gửi tâm tư, gửi gắm những thầm kín của lứa đôi. Đặc biệt, phần thử tài ứng đối chính là “linh hồn” của canh hát, nơi các bên đưa ra những câu đố về thiên nhiên, lịch sử, đời sống để thách thức trí tuệ của nhau.
Đêm về khuya, canh hát chuyển sang những làn điệu thiết tha, thương nhớ và chỉ kết thúc khi gà gáy sáng bằng những lời chia tay lưu luyến, dùng giằng không nỡ rời xa. Mỗi chặng hát trong quy trình ấy đều mang một sắc thái nội dung, làn điệu và những quy tắc diễn xướng nghiêm ngặt riêng, đòi hỏi người tham gia phải nắm vững.
Nghệ nhân Hà Thị Dảy ở xã Đông Khê cho biết, để theo trọn một canh hát suốt đêm, người hát không chỉ dừng lại ở việc học thuộc lòng các câu ca cổ do tổ tiên truyền lại, mà điều cốt yếu là phải sở hữu khả năng ứng tác linh hoạt. Tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, không khí buổi hát hay đối tượng giao lưu, lời lượn phải được sáng tạo ngay tại chỗ, “xuất khẩu thành thơ” nhưng vẫn phải giữ đúng niêm luật, thể thức nghiêm ngặt của làn điệu. Chính sự kết hợp giữa kho tàng tri thức dân gian sẵn có và tư duy nhạy bén, tinh tế của người thể hiện đã tạo nên sức hấp dẫn vượt thời gian cho Lượn Slương.
Một điểm độc đáo khác làm nên bản sắc riêng biệt của Lượn Slương là tính chất xướng âm thuần túy. Khác với nhiều loại hình nghệ thuật dân gian thường có sự hỗ trợ của đàn tính, sáo trúc hay trống phách, Lượn Slương hầu như hoàn toàn dựa vào chất giọng tự nhiên của người thể hiện. Không có âm thanh nhạc cụ dẫn dắt, mọi cung bậc cảm xúc đều được thể hiện qua làn hơi, nhịp điệu và độ ngân vang của giọng hát.

Lượn Slương không chỉ cần có giọng hát truyền cảm mà còn biết ứng đối linh hoạt để nối tiếp mạch cảm xúc trong từng cuộc hát.
Giữ hồn dân tộc qua câu lượn cổ
Cũng như nhiều loại hình văn hóa dân gian khác, Lượn Slương đang đứng trước nguy cơ mai một khi lớp nghệ nhân cao tuổi ngày càng ít đi, trong khi đời sống hiện đại mang đến nhiều hình thức giải trí mới. Nhiều canh lượn kéo dài suốt đêm như trước đây không còn xuất hiện thường xuyên trong các bản làng.
Tuy nhiên, ở nhiều địa phương trong tỉnh, những người yêu dân ca Tày vẫn đang âm thầm gìn giữ và trao truyền làn điệu cổ cho thế hệ trẻ. Tại các câu lạc bộ dân ca, những buổi sinh hoạt cộng đồng hay các ngày hội văn hóa, tiếng Lượn Slương vẫn được cất lên như một cách để kết nối các thế hệ và nuôi dưỡng tình yêu với văn hóa dân tộc.
Chị Hà Thị Phượng, thành viên Câu lạc bộ bảo tồn dân ca xã Đông Khê cho biết: Tôi được nghe bà và mẹ hát Lượn Slương từ khi còn nhỏ. Lớn lên mới hiểu rằng mỗi câu lượn không chỉ là lời ca giao duyên mà còn chứa đựng những bài học về đạo lý, cách ứng xử và tình yêu quê hương. Vì thế, tôi luôn mong muốn học thuộc và truyền lại cho thế hệ trẻ để những làn điệu này không bị mai một theo thời gian.
Từ những nghệ nhân cao tuổi đến lớp trẻ hôm nay, sự tiếp nối ấy đang góp phần giữ cho tiếng Lượn Slương vẫn ngân vang giữa các bản làng vùng cao. Mỗi câu hát được trao truyền không chỉ là sự kế thừa một làn điệu dân ca mà còn là sự gìn giữ ký ức văn hóa, bản sắc và tâm hồn của dân tộc Tày qua nhiều thế hệ.
Ngày nay, giữa những đổi thay của cuộc sống hiện đại, tiếng Lượn Slương vẫn vang lên trong các lễ hội xuân, ngày hội văn hóa dân tộc hay những cuộc giao lưu cộng đồng. Những câu hát mộc mạc nhưng chan chứa tình người ấy không chỉ phản ánh đời sống tinh thần phong phú của đồng bào Tày mà còn là minh chứng cho sức sống bền bỉ của một di sản văn hóa được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/luon-sluong-dieu-hat-yeu-thuong-cua-nguoi-tay-3194057.html

