Ly cà phê giá 100.000 đồng trở nên bình thường từ khi nào?

Một ly cà phê 100.000 đồng từng khiến nhiều người đắn đo, nhưng nay mức giá này xuất hiện ngày càng nhiều trong các quán cà phê đô thị.

Cửa hàng Starbucks tại tầng 1 Bưu điện Hà Nội (đường Đinh Tiên Hoàng, phường Hoàn Kiếm). Ảnh: Châu Sa.

Cửa hàng Starbucks tại tầng 1 Bưu điện Hà Nội (đường Đinh Tiên Hoàng, phường Hoàn Kiếm). Ảnh: Châu Sa.

Hạt cà phê tại cửa hàng %Arabica cơ sở tòa số 125 Hai Bà Trưng (phường Sài Gòn, TP.HCM). Ảnh: Linh Huỳnh.

Hạt cà phê tại cửa hàng %Arabica cơ sở tòa số 125 Hai Bà Trưng (phường Sài Gòn, TP.HCM). Ảnh: Linh Huỳnh.

Một số thương hiệu cà phê trên trục đường Xuân Thuỷ (khu Thảo Điền, TP.HCM). Ảnh: Khương Nguyễn.

Một số thương hiệu cà phê trên trục đường Xuân Thuỷ (khu Thảo Điền, TP.HCM). Ảnh: Khương Nguyễn.

Ly cà phê chạm ngưỡng nửa triệu đồng từng nhận về nhiều ý kiến trái chiều từ thực khách. Ảnh: XLIII Coffee.

Ly cà phê chạm ngưỡng nửa triệu đồng từng nhận về nhiều ý kiến trái chiều từ thực khách. Ảnh: XLIII Coffee.

ZNEWS

|

Ẩm thực

Ly cà phê giá 100.000 đồng trở nên bình thường từ khi nào?

Một ly cà phê 70.000-100.000 đồng từng khiến nhiều người đắn đo, nhưng nay mức giá này xuất hiện ngày càng nhiều trong các quán cà phê đô thị.

99.000 đồng

Ly cà phê Sa Pa tại thương hiệu THAIYEN CAFE (Thái Yên) từng có giá 85.000 đồng/ly cỡ lớn trước khi nâng lên 99.000 đồng đầu tháng 9 vừa qua.

Tại Hà Nội và TP.HCM, khoảng giá 70.000-100.000 đồng đang xuất hiện ngày càng nhiều trong menu đồ uống, từ quán cà phê định hướng specialty (hạt đặc sản), thương hiệu quốc tế, vị trí “đất vàng” cho tới những món đồ uống được xây dựng như một sản phẩm trải nghiệm.

Mức giá này chưa phải mặt bằng chung của thị trường, nhưng đang dần trở thành một vùng giá quen thuộc hơn với một bộ phận khách hàng thành thị.

Bạn đang chi bao nhiêu cho đồ uống?

ZNEWS

|

Ẩm thực

Thu nhập mỗi tháng của bạn

15 triệu đồng

8 triệu15 triệu25 triệu35 triệu40 triệu

Giá một ly bạn hay gọi

70.000 đồng

25.00045.00070.000100.000200.000

Tần suất đi cà phê

15 lần mỗi tháng

Hiếm khi

1-2 lần/tháng

Thỉnh thoảng

1-2 lần/tuần

Thường xuyên

3-4 lần/tuần

Hàng ngày

mỗi ngày một ly

Nhóm “thường xuyên” chiếm 29,66% thực khách Việt trong 6 tháng đầu năm.

Mỗi tháng bạn chi cho cà phê

1.050.000 đồng

bằng 7% thu nhập

12,6 triệu đồng

cả năm

21 bát phở

mỗi tháng, tính 50.000 đồng/bát

Ly cà phê đã thành một khoản chi cố định đáng để ý.

Khoảng giá 70.000-100.000 đồng

Khảo sát menu tại nhiều mô hình cho thấy thị trường đồ uống hiện vẫn rất rộng về giá.

Một ly cà phê vỉa hè có thể chỉ 15.000-25.000 đồng, quán bình dân hoặc chuỗi phổ thông thường nằm trong khoảng vài chục nghìn đồng. Trong khi đó, ở nhóm specialty, quán có concept hoặc nằm tại những vị trí trung tâm, mức 70.000-100.000 đồng cho một món không còn hiếm.

Tại THAIYEN, sau đợt tăng giá gần nhất, mức giá của một ly bạc xỉu cỡ lớn 85.000-95.000 đồng, nhiều món như coldbrew có giá hơn 90.000 đồng ly size lớn.

Every Half cũng có nhiều lựa chọn trong khoảng này. Một ly matcha latte hay specialty chocolate có giá 80.000 đồng, hay một ly Americano có thể lên tới 95.000 đồng.

Cửa hàng Starbucks tại tầng 1 Bưu điện Hà Nội (đường Đinh Tiên Hoàng, phường Hoàn Kiếm). Ảnh: Châu Sa.

Tại Starbucks, giá đồ uống hiện dao động khoảng 90.000-125.000 đồng, tùy món và kích cỡ. Món có giá thấp nhất rơi vào mức 74.000 đồng, tuy nhiên mức này không có nhiều lựa chọn.

Riêng tại TP.HCM, danh sách những thương hiệu có mức giá cao cũng không ít. Bosgaurus Coffee Roasters có nhiều món trong khoảng 75.000-95.000 đồng, trong khi Manki có giá từ khoảng 90.000 đến 190.000 đồng. Đáng chú ý, một số món đặc biệt tại Manki có thể lên tới 289.000 đồng.

Ngay trong cùng một thương hiệu, khách hàng có thể đứng trước nhiều lựa chọn giá khác nhau. Một ly cà phê đen có thể chưa tới 50.000 đồng, nhưng một món sử dụng hạt đặc biệt, phương pháp pha thủ công hoặc nhiều nguyên liệu hơn hoàn toàn có thể tiến tới 70.000-100.000 đồng.

Hạt cà phê tại cửa hàng %Arabica cơ sở tòa số 125 Hai Bà Trưng (phường Sài Gòn, TP.HCM). Ảnh: Linh Huỳnh.

Đặt cạnh những khoản chi quen thuộc, khoảng cách này càng dễ nhận ra.

Tại Hà Nội, một bát phở hoặc bún phổ biến ở nhiều hàng quán hiện có giá khoảng 40.000-55.000 đồng, một suất cơm văn phòng thường khoảng 50.000-55.000 đồng.

Hiểu đơn giản, với 90.000 đồng, một người có thể mua một bữa sáng kèm đồ uống, hoặc một suất cơm trưa và thêm món phụ. Trong khi đó, số tiền tương tự có thể chỉ đổi lấy một cốc đồ uống ở một số quán cà phê.

Nhưng cách khách hàng nhìn nhận hai khoản chi này không hoàn toàn giống nhau.

Một người mua cà phê 90.000 đồng rồi mang đi có thể cảm thấy đắt. Người khác gọi đúng ly cà phê đó, ngồi trong quán 3 tiếng để làm việc, sử dụng Wi-Fi, điều hòa, ổ điện, không gian yên tĩnh và gặp gỡ bạn bè lại có thể xem đây là khoản chi cho cả một khoảng thời gian.

Đó cũng là lúc khái niệm "giá một ly cà phê" bắt đầu trở nên phức tạp hơn giá của những nguyên liệu nằm trong chiếc cốc.

Tần suất dùng đồ uống của thực khách Việt

Không bao giờ

1,5%

Hiếm khi

1-2 lần/tháng

16,38%

Thỉnh thoảng

1-2 lần/tuần

33,3%

Thường xuyên

3-4 lần/tuần

29,66%

Hàng ngày

tăng từ 13,6%

19,16%

Nguồn: iPOS.vn

Theo Báo cáo thị trường kinh doanh ẩm thực tại Việt Nam của iPOS.vn và Nestlé Professional, trong 6 tháng đầu năm 2026, tần suất sử dụng đồ uống của người Việt có sự phân hóa rõ hơn.

Tỷ lệ uống hàng ngày tăng từ 13,60% lên 19,16%, trong khi các nhóm uống thường xuyên và thỉnh thoảng giảm nhẹ. Đặt cạnh xu hướng chi tiêu, thị trường cho thấy khách hàng vừa uống thường xuyên hơn, vừa sẵn sàng duy trì mức chi cao hơn cho những lựa chọn quen thuộc.

Đây là biểu hiện của hiệu ứng "nước chảy chỗ trũng", tức là khi đã hình thành thói quen với một thương hiệu, khách có xu hướng quay lại thay vì liên tục thử quán mới. Không gian có thể giúp thu hút lượt khách đầu tiên, nhưng chất lượng ổn định và trải nghiệm tốt mới quyết định khả năng quay lại.

Xu hướng này tạo dư địa cho những thương hiệu như Starbucks, Every Half xây dựng tệp khách hàng trung thành trong quá trình mở rộng.

Khách hàng đang trả tiền cho điều gì?

“

Khách có quyền kỳ vọng nguyên liệu tốt, đồ uống được làm chỉn chu, chất lượng ổn định và một trải nghiệm dễ chịu tại quán.

Dương Chung Thành, chủ quán cà phê SOLUS

Dương Chung Thành, chủ quán cà phê SOLUS trên đường Phố Huế (phường Hai Bà Trưng, Hà Nội) cho biết mức giá phổ biến tại quán dao động 50.000-85.000 đồng/ly, trong khi cà phê V60 sử dụng hạt specialty khoảng 170.000 đồng/ly. Một số loại matcha cao cấp có giá 200.000-300.000 đồng/ly.

Theo anh, giá bán không chỉ đến từ nguyên liệu mà còn gồm cách pha chế, nhân sự, mặt bằng và các chi phí vận hành.

Với chủ quán này, áp lực không nằm ở việc chứng minh mức giá 70.000-100.000 đồng là “rẻ” hay “đắt”, mà là làm sao để khách cảm thấy món mình gọi xứng đáng với số tiền bỏ ra.

Một số thương hiệu cà phê trên trục đường Xuân Thuỷ (khu Thảo Điền, TP.HCM). Ảnh: Khương Nguyễn.

XLIII Coffee, một quán specialty tại TP.HCM, từng bán ly cà phê Sudan Rume #00046 với giá 500.000 đồng/ly cho biết mức giá cao trước hết đến từ chính chất lượng và độ khan hiếm của hạt. Loại cà phê này được nhập từ Colombia, có giá hạt thô khoảng 120 USD/kg và đạt 93,5/100 điểm theo thang đánh giá của SCA. Giống cà phê, điều kiện canh tác, sản lượng giới hạn cùng quá trình tuyển chọn, vận chuyển và bảo quản đều khiến chi phí cao hơn cà phê thương mại.

Bên cạnh nguyên liệu, quán cho biết để giữ đúng chất lượng specialty, cà phê còn cần được pha bằng nước chiết xuất và màng lọc phù hợp, đồng thời đi kèm phần dịch vụ và trải nghiệm tại quán. Với dòng cà phê có giá cao, việc giải thích rõ nguồn gốc, giống, niên vụ và cách rang cũng trở thành một phần của trải nghiệm, giúp khách hiểu họ đang trả tiền cho điều gì.

Ly cà phê chạm ngưỡng nửa triệu đồng từng nhận về nhiều ý kiến trái chiều từ thực khách. Ảnh: XLIII Coffee.

Ở góc độ quan sát thị trường, ông Hoàng Tùng, Chủ tịch F&B Investment, chuyên gia có gần 20 năm kinh nghiệm trong ngành F&B tại Việt Nam, cho rằng có thể nhìn giá một ly đồ uống qua 3 lớp.

3 lớp trong giá một ly đồ uống

1

Giá vốn sản phẩm, gồm trà, cà phê, sữa, trái cây, topping, cốc, nắp, ống hút... Đây là phần khách hàng dễ hình dung nhất.

2

Toàn bộ chi phí để bán được ly đồ uống đó, từ tiền thuê mặt bằng, nhân sự, điện nước, khấu hao máy móc, đầu tư cửa hàng đến marketing, quản lý, công nghệ và thất thoát… Một quán nằm ở vị trí đẹp, diện tích lớn, đầu tư mạnh cho không gian đương nhiên có cấu trúc chi phí khác một kiosk nhỏ.

3

Định vị thương hiệu. Đây là phần khiến hai ly có giá vốn tương đương nhưng một bên có thể bán 40.000 đồng, bên kia bán 80.000-100.000 đồng.

“

Khi đó khách trả thêm cho thương hiệu, vị trí, không gian, dịch vụ, sự tiện lợi, cảm giác khi sử dụng và cả việc chiếc cốc đó đại diện cho điều gì.

Ông Hoàng Tùng, Chủ tịch F&B Investment

Theo ông Tùng, không có một mốc cố định để xác định từ mức giá nào khách hàng bắt đầu trả thêm cho thương hiệu hay trải nghiệm. Ngay ở những mức giá thấp hơn, chi phí vận hành và các giá trị vô hình đã được tính vào giá bán.

Tuy nhiên, giá càng cao thì kỳ vọng của khách hàng cũng càng lớn. Một ly 70.000-100.000 đồng cần tạo ra sự khác biệt đủ rõ về nguyên liệu, cách pha chế, chất lượng, không gian hoặc dịch vụ để khách cảm thấy khoản chi này hợp lý.

Giá một ly cà phê ở châu Á

Ở một số thị trường châu Á, giá một ly cà phê cũng được theo dõi như một chỉ báo về chi phí tiêu dùng.

Tokyo, Nhật Bản

622 yen

khoảng 105.000 đồng một cốc

Cơ quan Thống kê Nhật Bản (Statistics Bureau) ghi nhận giá một cốc cà phê dùng tại quán ở Tokyo vào tháng 1, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.

Trung Quốc

46,44%

chấp nhận mức 21-30 nhân dân tệ, khoảng 78.000-111.000 đồng

Khảo sát của iiMedia Research cho thấy 46,44% người tiêu dùng được hỏi chấp nhận mức giá này cho một ly cà phê tại quán vào năm 2025.

ZNEWS

|

Ẩm thực

Nhật Ánh

Đồ họa: Xuân Sang

Nguồn Znews: https://znews.vn/ly-ca-phe-gia-100000-dong-tro-nen-binh-thuong-tu-khi-nao-post1687716.html