Mái đình xứ Quảng
VHXQ - Đình xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng thế kỷ 15, gắn với quá trình củng cố tổ chức hành chính của làng xã dưới triều Lê sơ. Từ đó trở đi, đình trở thành một thành tố quan trọng trong cấu trúc của hầu hết làng quê người Việt.

Đình làng Thạch Tân. Ảnh: Nguyễn Tuấn
Đình và không gian làng quê
Trong cấu trúc không gian làng quê Việt Nam, ngôi đình thường tọa lạc ở những vị trí đắc địa, có ý nghĩa phong thủy và giá trị cảnh quan. Câu ca dao “Toét mắt là tại hướng đình. Cả làng toét mắt, riêng mình em đâu” là một ngoa dụ về tầm quan trọng của phong thủy trong việc chọn đất dựng đình.
Phần lớn đình làng miền Bắc tọa lạc ở trung tâm làng, với những yếu tố cảnh quan quan trọng như cây đa, giếng nước, ao làng. Ở miền Trung, đình làng thường nằm gần sông, gần đường giao thông hay ở đầu làng. Sự khác biệt này phản ánh điều kiện địa lý và mô hình cư trú tại miền Trung, nơi các làng thường phân bố dọc theo các dòng sông hoặc các tuyến giao thông quan trọng.
Về mặt kiến trúc, ngôi đình là sự hợp thành của nhiều thành phần: Phía trước là nghi môn hoặc cổng đình, đánh dấu ranh giới giữa không gian bên ngoài và không gian thiêng của đình. Tiếp đến là sân đình - không gian công cộng lớn nhất và quan trọng nhất của làng, nơi diễn ra các hoạt động lễ hội và sinh hoạt cộng đồng. Công trình chính của đình thường là tòa đại đình hoặc tiền tế - nơi diễn ra các nghi lễ cúng tế thần linh và những người có công được thờ phụng trong đình - cũng là nơi diễn ra các cuộc họp của làng.

Đình làng Hương Trà. Ảnh: Phương Thảo
Phía sau là hậu cung - nơi đặt bàn thờ thành hoàng. Nhiều đình còn có các công trình phụ như tả vu, hữu vu, nhà kho hoặc nhà khách. Đình làng thường được xây dựng bằng gỗ, mái lợp ngói, có hệ thống cột kèo bằng gỗ, được chạm khắc những đồ án trang trí: tứ linh, tứ quý, cảnh trí và sinh hoạt đời thường của cộng đồng, phản ánh trình độ thẩm mỹ và tay nghề của các nghệ nhân của làng quê.
So với đình làng ở miền Bắc, đình làng miền Trung thường có quy mô nhỏ hơn và bố cục đơn giản hơn. Nhiều đình chỉ có các thành tố cơ bản như: sân đình, đại đình và hậu cung, ít có những kiến trúc phụ như tả vu, hữu vu... Sự giản lược này phản ánh điều kiện kinh tế và vật liệu xây dựng ở miền Trung trong quá khứ.
Đình làng miền Trung thường sử dụng mái ngói âm dương và kết cấu gỗ truyền thống. Tuy nhiên, hệ thống trang trí thường tiết chế hơn so với đình ở Bắc Bộ. Một số đình ở xứ Huế và xứ Quảng còn chịu ảnh hưởng của phong cách kiến trúc cung đình thời Nguyễn, đặc biệt trong cách bố trí không gian và hình thức trang trí.
Di sản văn hóa đa tầng
Khi người Việt bắt đầu hành trình Nam tiến mở cõi, họ mang theo rất nhiều thứ từ quê cũ: tập quán, tín ngưỡng, cách tổ chức làng xã… và cả đình làng. Khởi đầu từ thế kỷ 14, thịnh hành vào thế kỷ 16-17, nhiều cộng đồng cư dân từ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ và miền Trung đã di cư vào vùng đất mới.

Mái đình. Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Khi lập làng, họ lại dựng đình giống như ở quê cũ. Những vị chức sắc trong làng thường tụ họp ở đình để bàn chuyện làng xã. Những việc như sửa đường, xây cầu, phân chia ruộng công, tổ chức lễ hội đều được bàn bạc ở đình.
Những dịp lễ hội, cả làng đều góp mặt ở ngôi đình. Khi ấy ở đình làng diễn ra những màn hát tuồng, múa hát dân gian hoặc các trò chơi truyền thống. Người già, người trẻ, trẻ con… đều tham gia. Đó là những dịp hiếm hoi trong năm mà cả làng tụ họp đông đủ.
Những ngôi đình ở vùng đất của lưu dân miền Trung và miền Nam đã tồn tại hàng trăm năm, chứng kiến bao biến động lịch sử. Đó không chỉ là những công trình kiến trúc cổ, mà còn là di sản văn hóa đa tầng giá trị.
Trước hết, đình làng là di sản của nền hành chính tự trị trong lịch sử nông thôn Việt Nam và diễn trình Nam tiến của người Việt. Những văn bằng, sắc phong, hương ước… của làng được lưu giữ tại những ngôi đình, là chứng tích ghi nhận về cách thức vận hành xã hội của làng quê thời “khẩn hoang mở cõi”. Những nghi lễ, lễ hội và phong tục diễn ra tại đình làng phản ánh đời sống tinh thần của cộng đồng qua nhiều thế hệ lưu dân đất phương Nam.
Thứ đến, đình làng là di sản kiến trúc và nghệ thuật. Bố cục và kết cấu kiến trúc, chi tiết chạm khắc, hệ khung gỗ, mái ngói và bố cục không gian của đình là di sản thể hiện trình độ kỹ thuật cũng như thẩm mỹ của những thế hệ nghệ nhân dân gian đến từ quê cha đất tổ ở miền Bắc và những thế hệ tiếp nối sinh trưởng trên vùng đất mới.
Đối với xứ Quảng, đình làng còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn. Trong quá trình khai phá vùng đất mới, đình là nơi gắn kết những cộng đồng cư dân đến từ nhiều vùng khác nhau. Tại đây, họ cùng xây dựng những quy ước chung, cùng thờ phụng thành hoàng, các bậc tiền nhân có công với làng, với nước.
Cũng từ đây bản sắc của làng quê, của cộng đồng cư dân được hình thành, gìn giữ và lưu truyền. Đình làng không chỉ là dấu tích của quá khứ mà còn là biểu tượng của sự đoàn kết và ý chí khai phá của cư dân xứ Quảng.
* * *
Bảo tồn đình làng chính là vừa giữ gìn một công trình kiến trúc cổ, đồng thời cũng là gìn giữ ký ức và bản sắc của cộng đồng. Đó cũng là cách để những giá trị truyền thống của làng quê Việt Nam, trong đó có làng quê nơi xứ Quảng, tiếp tục được gìn giữ và trao truyền cho các thế hệ mai sau.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mai-dinh-xu-quang-3330911.html











