Thoáng 'bóng' đình ở làng

VHXQ - Đình không chỉ là nơi gửi gắm tâm linh của làng mà còn như một điểm hẹn để cộng đồng cư dân tụ hội, nhất là dịp đầu xuân. Luôn có 'bóng' của đình thấp thoáng trong đời sống làng xã, phố thị...

Sân đình chộn rộn và đầy sắc màu như một điểm hẹn vào dịp đầu xuân (ẢNH: H.X.H)

Sân đình chộn rộn và đầy sắc màu như một điểm hẹn vào dịp đầu xuân (ẢNH: H.X.H)

Điểm hẹn đầu xuân

Chiều chiều nghe trống Đà Sơn
Nghe chuông Trà Kiệu, nghe đờn Miếu Bông.

Câu ca còn lưu truyền đến ngày nay ở Đà Nẵng nhắc về “trống Đà Sơn”, để chỉ hội làng tổ chức quãng cuối xuân ở làng cổ Đà Sơn có lịch sử xưa nhất của thành phố Đà Nẵng cũ.

Mùng 10 tháng Ba âm lịch là lễ tế Thành hoàng bổn xứ, cầu quốc thái dân an. Nhưng trước đó 1 ngày có lễ rước sắc từ nhà thủ sắc về đình làng của 12 chư phái tộc ở Hòa Khánh Nam, Liên Chiểu (nay là phường Hòa Khánh, thành phố Đà Nẵng mới).

Những trò chơi dân gian được tổ chức tại sân đình là dịp để dân các làng lân cận tụ họp, thưởng thức như Phước Lý, Trung Nghĩa, Vân Dương, Hường Phước, Trường Định, Phong Lệ...

Náo nhiệt đến vậy, nên tiếng trống Đà Sơn mới đủ vang xa theo thời gian. Khi khảo cứu về đình làng Đà Sơn trong cuốn “Đình làng Đà Nẵng”, các tác giả Hồ Tấn Tuấn - Lê Xuân Thông - Đinh Thị Toan khẳng định, lễ tế Thành hoàng bổn xứ “vui nhộn khắp cả vùng”, và rằng đình làng Đà Sơn ngày càng gắn chặt với đời sống tâm linh, lịch sử của dân làng đến mức “không thể tách rời đời sống cộng đồng”. Giữa cuối tháng Ba âm lịch, đình làng Đà Sơn có thêm lễ cúng âm linh nữa.

Cũng trong cuốn “Đình làng Đà Nẵng”, các tác giả còn khảo cứu kỹ lưỡng đình An Hải, một địa chỉ quen thuộc, nơi danh nhân Thoại Ngọc Hầu từng đóng góp công sức, tiền của trùng tu để rồi sau này ông được nhân dân tôn vinh là hậu hiền của làng.

“Trong quá khứ và đến hôm nay, hằng năm nhân dân An Hải đều tổ chức lễ hội tại đình làng, trong đó có nhiều trò chơi, diễn xướng dân gian mang sắc thái địa phương” (Đình làng Đà Nẵng, NXB Đà Nẵng - 2012, trang 45). Hẳn các tác giả đang nhắc đến những lễ hội đầu xuân ở không gian được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia này, như lễ tế xuân cầu an tổ chức tại đình và các miếu tại 11 xóm trong làng.

Khi đình làng “tái sinh”

Bảy năm trước, cũng vào quãng cuối tháng 3, khi lễ hội đình làng Hải Châu lần đầu tiên được phục dựng, nhiều người quan tâm đến ngôi đình gắn liền với lịch sử hình thành, phát triển của Đà Nẵng đã dùng hình dung từ hơi lạ: tái sinh.

Các hoạt động trong lễ hội ở đình làng tại Đà Nẵng. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng

Các hoạt động trong lễ hội ở đình làng tại Đà Nẵng. Ảnh: Bảo tàng Đà Nẵng

Ở nơi thờ cúng 43 chư phái tộc họ đầu tiên ở làng Hải Châu này (hiện chỉ còn 42 do tộc Nguyễn Văn đã tách ra riêng), khi các bậc tiền hiền đến khai khẩn từ cuối thế kỷ 15, đình làng đã phải dịch chuyển nhiều lần, nhiều nơi.

Ngôi đình hiện hữu được công nhận Di tích lịch sử - kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2001 vốn dĩ xây dựng từ năm 1904, và đúng 1 thế kỷ sau (2004) mới tôn tạo quy mô lớn. Nhưng phải chờ thêm 3 năm nữa, năm 2007, đề án khôi phục lễ hội đình làng Hải Châu mới khởi sự, 2 năm sau mới đủ điều kiện để chính thức phục dựng lễ hội tại tiền sảnh nhà hát Trưng Vương và sân đình làng...

Kể từ đó, phần lễ được cô đọng, giảm các hủ tục và chi tiết rườm rà, tập trung nhiều hơn vào phần hội để đảm bảo nghi thức tâm linh lẫn nhu cầu vui chơi giải trí như một sản phẩm du lịch truyền thống ở quận Hải Châu cũ (nay là phường Hải Châu). Biết bao tâm huyết và công sức đã đổ ra, hỏi sao không dùng từ “tái sinh”?

Đình làng xứ Quảng trở thành điểm hẹn, làm nơi tổ chức lễ hội hằng năm, nhất là dịp đầu xuân. Mùa xuân, điểm qua thấy có lễ hội của đình Chiên Đàn vào rằm tháng Giêng, có tế kỳ an xuân của đình Long Xuyên, có lễ tế tiền hiền ở đình Thái Đông... Nhiều nhà nghiên cứu ghi nhận, cứ đến mùa xuân, sân đình “hóa thân” thành sân khấu hát chèo, hát bả trạo, hát bài chòi, hát hò khoan đối đáp. Đấy cũng có thể là nơi tổ chức các trận đấu cờ, chọi gà; nam thanh nữ tú cũng có thể hò hẹn, múa hát giao duyên.

Thuở nhỏ, chúng tôi từng có những ngày tháng háo hức chờ đoàn hát đến dựng rạp, quây hàng rào, bán vé - soát vé ngay trước đình làng Vân Tây ở vùng đông Thăng Bình, Quảng Nam cũ. Bên trong khuôn viên đình làng thuở ấy, những gốc mù u cổ thụ to mấy người ôm tỏa bóng mát, quanh năm thường vắng lặng nhưng vào mùa xuân hoặc có đoàn hát nào đến biểu diễn thì lại rộn ràng âm thanh, sáng trưng ánh điện. Đoàn hát thường đi thuyền dọc theo sông Trường Giang, dừng lại ở bến rồi lần lượt chuyển máy móc, đạo cụ... tập kết ở sân đình.

Thời gian đã làm cho những háo hức của trẻ con vơi dần và làm mờ khuất nhiều cuộc hẹn “tả tơi xem hội” ở sân đình. Trong khảo cứu của mình, tác giả Võ Văn Hòe nhắc đến sân đình như một nơi trình diễn hát bội, một trong các loại hình vui chơi giải trí đầu xuân. Tiếng trống chầu ngày đầu xuân như thôi thúc, như giục giã. “Có lúc tiếng trống như reo vui bất tận, có lúc thâm sâu mang nhiều suy tưởng trầm tư, có khi rập dồn như vui tươi, có khi giận dữ, có khi lơi nhẹ nhàng biểu hiện sự bằng lòng thoải mái”, Võ Văn Hòe viết trong “Tết xứ Quảng” (NXB Đà Nẵng - 2005, trang 141).

Sẽ có thêm nhiều đình làng xứ Quảng “tái sinh”, để bóng đình luôn thấp thoáng trong sinh hoạt văn hóa làng xã. Một nét quyến rũ vừa sang trọng vừa gần gũi, mộc mạc.

HỨA XUYÊN HUỲNH

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/thoang-bong-dinh-o-lang-3330908.html