Mang rừng về vườn cà phê

Từ những vườn cà phê độc canh, những năm trở lại đây, người trồng cà phê ở các xã Hướng Phùng, Khe Sanh… đang từng bước chuyển sang mô hình nông lâm kết hợp, đưa cây che bóng trở lại vườn, giảm lượng phân bón hóa học và tận dụng phụ phẩm sau thu hoạch. Cách làm này không chỉ nâng cao chất lượng, giá trị hạt cà phê mà còn giúp sản phẩm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường, giảm phát thải và mở ra triển vọng tiếp cận những giá trị mới như tín chỉ carbon.

Đưa rừng trở lại vườn cà phê

Tại những vùng nguyên liệu liên kết với Công ty TNHH Pun Coffee ở xã Hướng Phùng, các vườn cà phê độc canh đang từng bước được thay bằng những khu vườn nhiều tầng cây. Xen giữa những hàng cà phê Arabica là cây lâm nghiệp bản địa, cây ăn quả, cây dược liệu.

Hiện doanh nghiệp đang liên kết vùng nguyên liệu khoảng 250ha với 175 hộ dân, trong đó có 125 hộ đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều. Vùng nguyên liệu này đáp ứng năng suất quả tươi khoảng 300 tấn/năm, cung cấp nguyên liệu nhân xanh từ 30 tấn/năm bao gồm cà phê nhân xanh được chứng nhận đặc sản và cà phê nhân xanh chất lượng cao.

Những vườn cà phê nông lâm kết hợp đang ngày càng được mở rộng tại xã Hướng Phùng - Ảnh: L.A

Những vườn cà phê nông lâm kết hợp đang ngày càng được mở rộng tại xã Hướng Phùng - Ảnh: L.A

Giám đốc Công ty TNHH Pun Coffee Lương Thị Ngọc Trâm cho biết, từ năm 2021, doanh nghiệp bắt đầu khởi xướng mô hình “mang rừng về vườn cà phê”. Theo đó, cùng với hỗ trợ cây giống, Pun Coffee phối hợp với nông dân đưa cây ăn quả, cây lâm nghiệp, dược liệu vào trồng xen trong vườn cà phê.

Đồng thời, doanh nghiệp hướng dẫn người dân áp dụng kỹ thuật canh tác, ghi chép nhật ký sản xuất và thu mua cà phê đáp ứng yêu cầu với mức giá cao hơn thị trường. Theo chị Trâm, đối với cây cà phê Arabica, hệ thống cây che bóng giúp hạn chế bức xạ trực tiếp, điều hòa nhiệt độ trong vườn, giữ ẩm đất tốt hơn vào mùa khô, đồng thời giảm tác động của mưa lớn và xói mòn.

Nhờ đó, cây cà phê có điều kiện sinh trưởng ổn định hơn, nhất là trước những diễn biến ngày càng cực đoan của thời tiết. Dưới tán che phù hợp, quả cà phê cũng có xu hướng chín chậm hơn so với cây trồng hoàn toàn ngoài nắng. Thời gian nuôi quả kéo dài tạo điều kiện để hạt tích lũy vật chất, qua đó cải thiện kích thước, khối lượng và góp phần hình thành các hợp chất liên quan đến hương vị. Đây là yếu tố quan trọng đối với cà phê chất lượng cao, cà phê đặc sản.

Điều này đặc biệt đáng chú ý ở Hướng Phùng, nơi có độ cao khoảng 550-680m so với mực nước biển, thấp hơn khá nhiều so với các vùng trồng cà phê Arabica nổi tiếng khác vốn nằm ở độ cao trên 1.000m. Khi đó, cây che bóng góp phần điều hòa “tiểu khí hậu”, làm chậm quá trình chín của quả và tạo môi trường thuận lợi hơn cho việc phát triển chất lượng hạt.

“Chính sự kết hợp giữa chất lượng quả trên cây với cách thu hái, chế biến phù hợp đã đưa sản phẩm cà phê Arabica của Pun Coffee nhiều năm liền được xếp hạng cao tại các cuộc thi cà phê đặc sản trong nước”, chị Trâm khẳng định.

Cũng tại xã Hướng Phùng, hơn 5ha cà phê của An Việt Farm đang cho thấy những khác biệt rõ nét khi được trồng dưới tán cây gáo và cây ăn quả. Bà Trần Mai Hương, chủ cơ sở An Việt Farm cho hay, năm 2019, bà bắt đầu đưa cây rừng vào trồng xen giữa vườn cà phê, tạo thành hệ sinh thái 4 tầng tán, gồm cây gỗ lớn tạo bóng, tầng cà phê, cây ăn quả trồng xen và lớp thảm thực vật phía dưới giúp giữ ẩm, bảo vệ đất. Mô hình này vừa cung cấp bóng mát cho cây cà phê, vừa giúp làm chậm quá trình phát triển của quả, cho phép quả tích tụ nhiều đường, chất béo và các hợp chất hương vị.

Cà phê trồng dưới tán cây che bóng tại xã Hướng Phùng vừa tạo môi trường sinh trưởng ổn định, vừa góp phần nâng cao chất lượng hạt - Ảnh: L.A

Cà phê trồng dưới tán cây che bóng tại xã Hướng Phùng vừa tạo môi trường sinh trưởng ổn định, vừa góp phần nâng cao chất lượng hạt - Ảnh: L.A

Theo bà Hương, lợi ích dễ nhận thấy là quả cà phê chín đều hơn, hạn chế nám cháy do ánh nắng trực tiếp, nhân phát triển tốt và độ ngọt của quả cao hơn. Khi được thu hái đúng độ chín và chế biến phù hợp, hạt cà phê có thể hình thành những tầng hương vị phong phú, phù hợp với định hướng sản xuất cà phê đặc sản, cũng như được ưa chuộng trên thị trường trong nước và quốc tế. “Hiện tại 5ha cà phê này đang cho sản lượng khoảng 75 tấn quả tươi/năm. Trong đó, khoảng 80% sản phẩm tiêu thụ tại thị trường nước ngoài như Nhật Bản, Đức…”, bà Hương chia sẻ.

Phó Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng Phan Ngọc Long thông tin, tổng diện tích cà phê trên địa bàn xã đạt gần 2.500ha, chiếm khoảng 75% tổng diện tích cà phê toàn tỉnh. Trong đó, gần 2.280ha đã được rà soát, xác định đáp ứng các yêu cầu liên quan đến Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR).

Đặc biệt, thời gian qua, thông qua dự án “Sản xuất cà phê sinh thái và cải thiện rừng tự nhiên” do WWF-Việt Nam tài trợ, Công ty Slow Forest Coffee đã liên kết với các hộ dân, hợp tác xã (HTX), tổ hợp tác, doanh nghiệp trên địa bàn xã để phát triển chuỗi liên kết cà phê chất lượng cao theo mô hình nông lâm kết hợp thông qua việc xây dựng vùng nguyên liệu với diện tích gần 1.000ha.

Cơ hội chuyển nhượng tín chỉ carbon

Theo Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Bùi Phước Trang, cà phê là cây trồng chủ lực tại các xã miền núi phía Tây Nam Quảng Trị với tổng diện tích trên 3.700ha, tập trung tại các xã Hướng Phùng, Khe Sanh, Tân Lập, A Dơi… Thời gian qua, cùng với tái canh, trồng mới thay thế những vườn cà phê già cỗi, nhiều cá nhân, doanh nghiệp, HTX đã liên kết với người dân phát triển cà phê theo hướng sinh thái, nông lâm kết hợp.

Qua đó, từng bước hình thành những vườn cà phê có cây che bóng, áp dụng phương thức canh tác thân thiện với môi trường, hướng đến sản xuất cà phê chất lượng cao và cà phê đặc sản.

Bên cạnh đó, nhiều giải pháp giảm phát thải cũng đang từng bước ứng dụng vào sản xuất. Đơn cử như tại HTX Nông sản Khe Sanh, vỏ cà phê và cành cây cắt tỉa được tận dụng làm nhiên liệu cho hệ thống khí hóa sinh khối, phần carbon rắn được thu hồi dưới dạng biochar để nghiên cứu đưa trở lại đất.

Trong khi đó, Công ty TNHH Cà phê Tà Cơn Khe Sanh xử lý vỏ cà phê, cành cắt tỉa bằng chế phẩm vi sinh, ủ thành phân hữu cơ bón trở lại vùng nguyên liệu. Những cách làm này góp phần giảm lượng chất thải, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, tiết giảm một phần vật tư, chi phí đầu vào, qua đó mở ra dư địa giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ carbon.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hồng Phương, phát triển cà phê nông lâm kết hợp, cà phê cảnh quan, sản xuất không gây mất rừng là hướng đi phù hợp, đồng thời tạo điều kiện gia tăng khả năng hấp thụ carbon. Đây là cơ sở để tính đến nguồn thu từ chuyển nhượng tín chỉ carbon cho người sản xuất trong tương lai.

Tuy nhiên, bà Phương lưu ý, việc hình thành những vườn cà phê nông lâm kết hợp mới chỉ là bước khởi đầu. Muốn tiến tới tạo lập tín chỉ carbon, quá trình sản xuất phải tiếp tục được tổ chức theo hướng giảm phát thải thực chất; ưu tiên các loài cây bản địa lâu năm có khả năng hấp thụ carbon, giảm sử dụng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và hạn chế tác động đến hệ sinh thái đất, nguồn nước.

Lượng carbon được hấp thụ hoặc phát thải được cắt giảm phải được đo đếm, theo dõi, báo cáo và kiểm chứng theo phương pháp, tiêu chuẩn phù hợp. “Khi đó cơ hội chuyển nhượng tín chỉ carbon mới thực sự đến gần hơn với người trồng cà phê”, bà Phương nhấn mạnh.

Lê An

Nguồn Quảng Trị: https://baoquangtri.vn/kinh-te/202610/mang-rung-ve-vuon-ca-phe-96e6c31/