Masan đề xuất nâng mục tiêu lợi nhuận năm 2026 lên 11.500 tỷ đồng
Sau kết quả kinh doanh tích cực trong nửa đầu năm, Hội đồng quản trị Masan đề xuất nâng mục tiêu lợi nhuận sau thuế năm 2026 lên 10.000–11.500 tỷ đồng. Phương án điều chỉnh sẽ được trình Đại hội đồng cổ đông xem xét, thông qua tại cuộc họp gần nhất.

Masan đề xuất nâng mục tiêu lợi nhuận năm 2026 lên 11.500 tỷ đồng.
Công ty Cổ phần Tập đoàn Masan (HoSE: MSN) đề xuất điều chỉnh tăng kế hoạch kinh doanh hợp nhất năm 2026, với mục tiêu doanh thu thuần từ 98.000–105.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế từ 10.000–11.500 tỷ đồng.
So với kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua, mục tiêu doanh thu mới tăng thêm từ 4.500–7.000 tỷ đồng. Mục tiêu lợi nhuận sau thuế tăng từ mức 7.250–7.900 tỷ đồng lên 10.000–11.500 tỷ đồng.
Lợi nhuận quý II đạt 3.800 tỷ đồng
Đề xuất nâng kế hoạch được đưa ra sau khi Masan ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong quý II và nửa đầu năm 2026.
Theo báo cáo kết quả kinh doanh chưa kiểm toán, doanh thu thuần hợp nhất quý II đạt 28.118 tỷ đồng, tăng 53,5% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao đạt 7.014 tỷ đồng, tăng 87,1%.
Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông không kiểm soát đạt 3.800 tỷ đồng, gấp 2,3 lần cùng kỳ và là mức lợi nhuận theo quý cao nhất của doanh nghiệp. Lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông không kiểm soát, phản ánh phần lợi nhuận thuộc về cổ đông Masan, đạt 3.125 tỷ đồng, gấp ba lần cùng kỳ.
Trong nửa đầu năm, lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông không kiểm soát của Masan tăng khoảng 2,2 lần; lợi nhuận thuộc về cổ đông công ty mẹ tăng khoảng ba lần so với cùng kỳ.
Masan cho biết kết quả này đến từ sự cải thiện đồng thời của các mảng tiêu dùng, bán lẻ, vật liệu công nghệ cao và phần lợi nhuận được ghi nhận từ công ty liên kết.
Bán lẻ và vật liệu công nghệ cùng đóng góp
Hệ điều hành tiêu dùng của Masan, gồm các nền tảng thương hiệu, bán lẻ và số hóa, ghi nhận doanh thu quý II đạt 20.059 tỷ đồng, tăng 20,5%. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông không kiểm soát đạt 3.356 tỷ đồng, tăng 26,2%.
Trong đó, WinCommerce – đơn vị vận hành hệ thống WinMart, WinMart+ và WiN – đạt doanh thu 11.629 tỷ đồng, tăng 27,4%. Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông không kiểm soát đạt 142 tỷ đồng, cao gấp 14 lần cùng kỳ.
Theo Masan, hơn 90% số cửa hàng mở mới của WinCommerce đạt điểm hòa vốn trước lãi vay, thuế và khấu hao ngay trong quý. Chuỗi cửa hàng quy mô nhỏ cũng duy trì tám quý liên tiếp tăng trưởng doanh thu trên cùng điểm bán ở mức hai chữ số.
Bên cạnh bán lẻ, Masan High-Tech Materials trở thành một trong những động lực lợi nhuận đáng chú ý. Doanh thu quý II của doanh nghiệp này đạt 8.138 tỷ đồng, gấp khoảng năm lần cùng kỳ.
Lợi nhuận sau thuế trước lợi ích cổ đông không kiểm soát đạt 1.666 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 6 tỷ đồng của quý II/2025. Kết quả được hỗ trợ bởi giá APT – sản phẩm trung gian quan trọng trong chuỗi sản xuất vonfram – tăng cao, cùng với việc cải thiện năng suất và hiệu quả vận hành.
Techcombank, doanh nghiệp liên kết của Masan, đóng góp 1.450 tỷ đồng vào lợi nhuận quý II, tăng 19,2% so với cùng kỳ.
Ưu tiên giảm đòn bẩy và tái đầu tư
Theo kịch bản điều chỉnh, Masan dự kiến lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ trong năm 2026 đạt khoảng 8.000 tỷ đồng, gấp khoảng hai lần năm 2025. Lợi nhuận trước lãi vay, thuế và khấu hao được kỳ vọng đạt khoảng 23.000 tỷ đồng.
Đến cuối quý II, doanh nghiệp có khoảng 17.557 tỷ đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Tổng nợ hợp nhất ở mức 69.140 tỷ đồng, tăng 7,6% so với cuối năm trước, chủ yếu phục vụ nhu cầu đầu tư mở rộng.
Masan cho biết khi các mảng kinh doanh có khả năng tự tài trợ cho tăng trưởng và đóng góp dòng tiền về tập đoàn, doanh nghiệp sẽ ưu tiên sử dụng dòng tiền tự do để giảm đòn bẩy tài chính, tái đầu tư và mở rộng dư địa chi trả cổ tức hoặc mua lại cổ phiếu.
Việc nâng kế hoạch lợi nhuận phản ánh kỳ vọng của ban điều hành về khả năng duy trì đà tăng trưởng trong nửa cuối năm. Tuy nhiên, kết quả thực tế còn phụ thuộc vào sức mua trong nước, hiệu quả mở rộng hệ thống bán lẻ và diễn biến giá vật liệu công nghệ trên thị trường quốc tế.


