Miền Tây cuối mùa gió chướng: Kỳ 3: 'Thuận thiên' để phát triển bền vững

Nghị quyết số 120/NQ-CP (NQ số 120) ngày 17/11/2017 của Chính phủ về 'phát triển bền vững Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu' xác định hướng đi chính là 'thuận thiên'. Tư duy này nhấn mạnh việc tôn trọng, nương theo quy luật tự nhiên, chủ động sống chung với hạn mặn, biến thách thức thành cơ hội, thay vì chống chọi lại thiên nhiên, bảo đảm phát triển bền vững...

Chuyển đổi tư duy

PGS.TS Nguyễn Phú Quỳnh - Phó Viện trưởng Viện Khoa học thủy lợi Miền Nam cảnh báo: xâm nhập mặn tại ĐBSCL diễn biến sớm và gay gắt hơn so với trước năm 2013. Mặn hiện xuất hiện từ giữa tháng 12 đến tháng 01, sớm hơn 1-1,5 tháng; đỉnh mặn cũng đến sớm hơn, rơi vào tháng 02 - 3 thay vì tháng 3 - 4 như trước đây. Đáng chú ý, dòng chảy mùa khô về đồng bằng có xu hướng tăng nhưng vẫn không đủ để ngăn chặn đà xâm nhập mặn ngày càng sâu.

Theo các kịch bản dự báo, ranh mặn tiếp tục lấn sâu vào nội đồng. Trên sông Tiền, độ mặn 4g/l có thể vào sâu khoảng 52km (năm 2020), tăng lên 55,5km năm 2030 và khoảng 62,5km năm 2050. Bình quân, ranh mặn sẽ tăng thêm khoảng 3,3km vào năm 2030 và 6,7km năm 2050.

Thu hoạch lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long

Thu hoạch lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long

Trước thực trạng này, cần chuyển đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp, coi nước mặn, nước lợ và nước ngọt đều là tài nguyên. Quản lý nước phải chuyển từ đơn lẻ theo công trình sang liên vùng, liên tỉnh, hướng đến quản trị hiện đại. Các giải pháp trọng tâm gồm nâng cao năng lực dự báo, vận hành liên thông hệ thống thủy lợi, tổ chức sản xuất linh hoạt theo điều kiện nguồn nước, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý. Đồng thời, chú trọng các giải pháp trữ nước quy mô lớn trong hệ thống kênh rạch và quy mô nhỏ tại hộ dân như ao, mương, ruộng nhằm chủ động ứng phó hạn mặn.

Theo Phó Giám đốc Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long Văn Hữu Huệ, trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, việc bảo đảm nguồn nước ngọt phục vụ sản xuất và sinh hoạt đang đối mặt nhiều thách thức. Tình trạng mặn xâm nhập sớm, lấn sâu vào nội đồng trong mùa khô ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Không ít khu vực phải phụ thuộc vào nguồn nước trữ tạm hoặc khai thác nước dưới đất để duy trì sản xuất và đời sống. Đáng lưu ý, việc khai thác nước ngầm kéo dài tiềm ẩn nguy cơ sụt lún nền đất, ảnh hưởng đến kết cấu hạ tầng, gia tăng rủi ro ngập úng, sạt lở, tác động tiêu cực đến phát triển bền vững. Hệ thống thủy lợi và cấp nước được đầu tư nhưng còn hạn chế, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu trữ nước, điều tiết và cấp nước trong điều kiện hạn, mặn ngày càng gia tăng.

Trước tình hình này, tỉnh Vĩnh Long đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như vận hành hiệu quả các công trình thủy lợi để chủ động trữ nước ngọt; tăng cường nạo vét, nâng cấp hệ thống kênh mương, đẩy mạnh quan trắc, dự báo độ mặn, kịp thời khuyến cáo người dân. Để bảo đảm cấp nước sinh hoạt, cần khuyến khích người dân trữ nước tại chỗ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ phù hợp với điều kiện nguồn nước. Ngoài ra, việc xây dựng hồ chứa nước lớn góp phần giải quyết tình trạng thiếu nước.

Nông dân tỉnh An Giang thu hoạch dưa hấu

Nông dân tỉnh An Giang thu hoạch dưa hấu

Thận trọng khi truyền thông

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện - chuyên gia nghiên cứu độc lập về sinh thái ĐBSCL, bày tỏ lo ngại mỗi mùa khô đến chúng ta bị "ám ảnh" bởi xâm nhập mặn. Điều này có thể lý giải như sau: Một thời gian dài, chúng ta xem nước mặn là "kẻ thù” và với một nền nông nghiệp tập trung tối đa hóa sản lượng lúa, nên đã can thiệp rất thô bạo vào tự nhiên đồng bằng. Các vùng ngọt hóa hiện nay là những vùng mà ngày trước trong điều kiện tự nhiên có 2 mùa ngọt - lợ luân phiên. Mùa mưa thì ngọt do mưa, trồng được một mùa lúa; mùa khô thì nước mặn pha với nước ngọt thành nước lợ, rất giàu thủy sản. Sau đó chúng ta xây dựng đê cống để "ngọt hóa", tức là trữ nước ngọt từ mùa mưa sang mùa khô và ngăn không cho mặn vào trong mùa khô. Trước sự biến đổi khí hậu đang diễn ra, các khu ngọt hóa trở nên mong manh.

Chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện không ngần ngại khi nhắc đến truyền thông: "Tôi thấy rằng, truyền thông báo chí như thói quen, cứ mùa khô đến thì hay giật tít về hạn - mặn, dù năm đó có thể là một mùa khô bình thường. Ví dụ mùa khô 2024, người ở những vùng khác qua truyền thông có thể nghĩ cả đồng bằng đang "khát nước", quằn quại vì khô hạn. Thực tế năm đó, sông Cửu Long vẫn đầy, 90% đồng bằng vẫn đủ nước. Khô hạn chỉ xảy ra bên trong các vùng ngọt hóa ven biển vì những vùng này có đê cống khép kín, lượng nước ngọt trữ bên trong gặp nắng nóng El Nino bốc hơi hết ngay đầu mùa khô khoảng tháng 01 và 02. Chẳng có nước ngọt, cũng không cho nước mặn vào khiến các vùng này trở nên khô khốc, đất bị nứt nẻ. Ống kính truyền thông chiếu cận cảnh các khu này rồi "vẽ” nên một đồng bằng thật bi đát!".

Theo Thạc sĩ Thiện, việc mặn có thể thọc sâu vào đồng bằng theo các cửa sông Cửu Long một phần do nước biển dâng, nhưng phần còn lại là vì tất cả các nhánh sông Cửu Long từ biển vào đều có đê cống hai bên, thủy triều không lan tỏa được, nên chảy mạnh trong sông, chọc thẳng vào trung tâm đồng bằng. Một nghiên cứu cho thấy nếu chúng ta thả một cái chai ở cửa sông Cổ Chiên ngày nay thì cái chai sẽ trôi vào tới chân cầu Mỹ Thuận nhanh hơn khoảng 40 phút so với trước đây vì hai bên sông có đê cống khép kín. Có khi mặn chỉ theo chu kỳ thủy triều nước rong, hòa vào dòng chính thọc sâu vài ngày rồi rút ra. Chúng ta lưu ý, thủy triều từ biển vào nội địa đồng bằng (trên sông Tiền, sông Hậu) khác với vào nội đồng (bên trong những cánh đồng). Tức là hạn mặn là có nhưng không phải tất cả các năm và không phải toàn bộ ĐBSCL mà chỉ những nơi đã bị can thiệp thô bạo, trái quy luật tự nhiên trong một thời gian dài.

Từ những sự việc đã xảy ra, các chuyên gia đề nghị truyền thông hết sức thận trọng và có trách nhiệm khi phản ánh về hạn hán, xâm nhập mặn, thông tin cần chính xác, tránh gây hoang mang dư luận.

Những con mương trơ đáy bởi hệ thống ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre cũ (nay là Vĩnh Long) mùa khô 2024

Những con mương trơ đáy bởi hệ thống ngăn mặn ở tỉnh Bến Tre cũ (nay là Vĩnh Long) mùa khô 2024

Nâng sức "đề kháng" cho ĐBSCL

Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho hay: Năm 2017, nhận biết được tình hình nghiêm trọng của ĐBSCL, Chính phủ đã triệu tập một hội nghị chưa từng có về ĐBSCL để huy động trí tuệ đa ngành, đưa ra NQ số 120, xác định hướng đi chính cho ĐBSCL là hướng "thuận thiên" (thuận theo tự nhiên). Theo đó, ĐBSCL chỉ có một bản quy hoạch tích hợp cho toàn đồng bằng, tích hợp tất cả các ngành vào một quy hoạch để hài hòa hóa. Trước đây khi chưa có Luật Quy hoạch 2017 thì ĐBSCL có hơn 2.500 bản quy hoạch, chồng chéo nhau. Quy hoạch tích hợp ĐBSCL cho giai đoạn 2021 - 2030 tầm nhìn 2050 đã được Thủ tướng phê duyệt ngày 28/02/2022 và được công bố tại Cần Thơ. "Thực hiện đúng NQ số 120 và quy hoạch này thì chúng ta không còn phải ám ảnh bởi mặn mỗi mùa khô đến. Quy hoạch này xem ĐBSCL là một cơ thể sống, sức đề kháng đến từ việc khôi phục sức khỏe tự nhiên của đồng bằng chứ không phải từ các công trình to lớn can thiệp thô bạo trái quy luật tự nhiên", ông Thiện khẳng định.

Đến nay bài toán "thuận thiên" vẫn còn nguyên giá trị. Đồng bằng chúng ta đang ở ngã ba đường, con đường cũ của việc tập trung vào cây lúa, thâm canh, chạy theo sản lượng, dùng công trình to lớn can thiệp thô bạo vào tự nhiên đã làm mất sức đề kháng của đồng bằng. Tác động của nước biển dâng, biến đổi khí hậu và thủy điện là có thật và rất nghiêm trọng nhưng sự tổn thương của một thực thể như đồng bằng còn đến từ sức khỏe nội tại bị suy yếu, mất sức, do hệ thống tự nhiên bị can thiệp thô bạo đến "què quặt" nữa.

Đê bao khép kín ở vùng thượng nguồn làm nước mùa lũ không vào được đồng ruộng nên dồn về vùng giữa đồng bằng. Khi đó thủy triều từ biển vào theo các cửa sông bị đê cống hai bên bờ sông chặn không cho lan tỏa, thì chọc thẳng vào vùng giữa. Hai nguồn nước này gặp nhau ở vùng giữa nơi ruộng vườn cũng có đê bao khép kín thì dâng cao trong lòng sông, gây ngập sâu các đô thị vùng giữa như: Ngã Bảy, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho... Có thể nói đồng bằng đã chính thức bước vào cuộc đua "đê tinh - thủy tinh" không có hồi kết. Càng đê bao khép kín bao nhiêu thì đô thị càng ngập sâu bấy nhiêu.

Con đường "thuận thiên" không trái quy luật tự nhiên theo NQ số 120 và Quy hoạch tích hợp ĐBSCL không chỉ giúp đồng bằng phục hồi mà còn có thể đưa đồng bằng đi tới một tương lai thịnh vượng, hài hòa với thiên nhiên. Việc Chính phủ đưa ra NQ số 120 và Quy hoạch tích hợp ĐBSCL đã thổi một luồng sinh khí mới, giúp thay đổi tư duy của nhiều bên. Nhiều mô hình canh tác mới đã được thực hiện phù hợp tự nhiên, có sức chống chịu tốt trong bối cảnh mới. "Rất tiếc là trong thời gian qua, do có nhiều ưu tiên khác, nên NQ số 120 và Quy hoạch tích hợp ít được nhắc đến. Trong khi đó, truyền thông lại "bi đát" hóa tình hình, từ đó dẫn đến tư duy cũ có vẻ đang trỗi dậy, với nhiều công trình can thiệp thô bạo vào tự nhiên tiếp tục mọc lên. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có quyền hy vọng về một tương lai tươi đẹp cho ĐBSCL. Một chính sách đúng đắn như vậy, trước sau cũng sẽ được thiên nhiên ủng hộ" - chuyên gia Nguyễn Hữu Thiện kỳ vọng vào quyết sách lớn cho vùng đất chín rồng.

(Còn tiếp)

DUY LUÂN - NGUYỄN NHÂN - VĂN CƯƠNG

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/vu-an/phong-su/ky-3-thuan-thien-de-phat-trien-ben-vung_191209.html