Minh chứng cho sức bật của nền kinh tế Việt Nam

Việc WB xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao sau khi tổng thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người năm 2025 đạt 4.970USD phản ánh nỗ lực phát triển của Việt Nam.

Song điều này cũng đặt ra những yêu cầu mới đối với mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn mới.

Vị thế mới

Nhìn lại bức tranh tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây (2021-2025), con số GNI tăng trung bình 10%/năm là minh chứng rõ rệt nhất cho sức bật của nền kinh tế.

Theo WB, kết quả này được dẫn dắt bởi hai trụ cột chính: sự phục hồi mạnh mẽ của xuất khẩu (tăng hơn 15% trong giai đoạn 2024-2025) và khả năng duy trì tốc độ tăng trưởng GDP ấn tượng (7% và 8% trong hai năm liên tiếp).

Bình quân GDP đầu người của Việt Nam qua các năm (ẢNH: WB)

Theo TS Lê Duy Bình, chuyên gia kinh tế, Giám đốc điều hành Economica Việt Nam, sự kiện nói trên vừa là sự ghi nhận những thành tựu đã đạt được, vừa mở ra yêu cầu cải cách mạnh mẽ để hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao.

Đáng chú ý, sự khác biệt lớn nhất nằm ở thước đo. WB sử dụng GNI thay vì GDP (tổng sản phẩm quốc nội) làm chuẩn phân loại. Nếu như GDP đo lường tổng giá trị tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong biên giới lãnh thổ một quốc gia thì GNI còn rộng lớn hơn khi đo lường tổng thu nhập do công dân và doanh nghiệp của quốc gia đó tạo ra, bất kể ở trong hay ngoài nước.

Sự khác biệt rõ nét nhất giữa hai chỉ số thể hiện qua công thức tính mối liên hệ giữa hai chỉ số: GNI = GDP + thu nhập yếu tố ròng từ nước ngoài.

Điều này có nghĩa, khi GNI vượt ngưỡng 4.636USD, nó xác nhận rằng Việt Nam không chỉ là một “công xưởng” gia công với quy mô GDP 514,7 tỷ USD mà đã bắt đầu gia tăng được hàm lượng giá trị sở hữu trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

TS Lê Duy Bình đánh giá, sự kiện WB xếp Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao thể hiện rõ thành quả đến từ nỗ lực bền bỉ của Việt Nam sau gần hai thập kỷ. Kể từ khi chính thức bước vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp từ năm 2009, phải mất tới 17 năm nỗ lực không ngừng nền kinh tế mới bước lên được nấc thang phát triển mới này.

Cải thiện mức sống người dân mới quan trọng

Tuy nhiên, TS Lê Duy Bình lưu ý, việc nâng hạng nói trên “không phải đích đến, chỉ là bước đệm”, bởi quy mô GDP chỉ là một cấu phần. Do đó, song song với việc mở rộng GDP, Việt Nam bắt buộc phải củng cố các nền tảng chiều sâu như năng lực khoa học - công nghệ, trình độ đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực và từng bước leo lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Giai đoạn tới cũng là lúc Việt Nam phải đối mặt với những bài toán phát triển phức tạp hơn, đòi hỏi tư duy quản trị phải thay đổi căn bản để tránh nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”.

Công nhân làm việc tại dây chuyền sản xuất linh kiện phụ trợ của Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Cát Thái, phường Long Phước, TPHCM (ẢNH: HOÀNG HÙNG)

Song song đó là áp lực từ già hóa dân số và an sinh xã hội, bất bình đẳng và khoảng cách giàu nghèo do quá trình tăng trưởng nóng. Đồng thời, khi quy mô kinh tế lớn hơn, nhu cầu tiêu thụ năng lượng và tài nguyên sẽ tăng theo.

Để phát triển bền vững và đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu, Việt Nam không có con đường nào khác ngoài việc thúc đẩy tăng trưởng xanh, sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm thiểu phát thải.

Bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, Trưởng ban Hệ thống tài khoản quốc gia, Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho rằng, việc chuyển nhóm thu nhập chủ yếu là sự thay đổi về phân loại kinh tế theo tiêu chí của WB, không đồng nghĩa Việt Nam đã trở thành quốc gia phát triển hay khoảng cách về thu nhập với các nước phát triển đã được thu hẹp. Năng suất lao động, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của nền kinh tế vẫn cần tiếp tục được nâng lên trong giai đoạn tới.

Theo bà Nguyễn Thị Mai Hạnh, việc xếp hạng cần phải đi kèm với việc thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện chứ không chỉ là những con số. Chẳng hạn, theo báo cáo của Cục Thống kê, thu nhập bình quân tháng của người lao động trong quý 2-2026 đạt gần 9 triệu đồng, giảm nhẹ 53.000 đồng so với quý 1.

Với các hộ dân cư, trong 6 tháng đầu năm có tới hơn 96% số hộ được khảo sát cho biết thu nhập không thay đổi hoặc tăng lên so với cùng kỳ năm trước. Trong đó gần 31% hộ đánh giá thu nhập tăng và có hơn 65% cho biết thu nhập ổn định.

Nhìn nhận khách quan, cột mốc này là minh chứng cho thấy Việt Nam đã thành công trong việc vượt qua giai đoạn tích lũy sơ khởi. Tuy nhiên, hành trình tiếp theo đòi hỏi một tư duy quản trị kinh tế khác biệt.

Theo các chuyên gia, việc nâng hạng nói trên còn tác động đến vị thế quốc gia và năng lực đàm phán quốc tế. Khi quy mô kinh tế và thị trường được mở rộng, vị thế đối ngoại của Việt Nam cũng có những thay đổi mang tính bản chất.

Trước hết, đó là nâng cao quyền đàm phán bởi về nguyên tắc thương mại, một nền kinh tế có quy mô lớn hơn sẽ sở hữu tiếng nói có trọng lượng hơn và “sức mạnh mềm” tốt hơn.

Điều này giúp Việt Nam giành được thế chủ động và các điều khoản thuận lợi hơn trong các cuộc đàm phán kinh tế, định hình các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Lưu Thủy

Nguồn SGĐT: https://dttc.sggp.org.vn/minh-chung-cho-suc-bat-cua-nen-kinh-te-viet-nam-post135405.html