Mô hình hợp tác xã số trên thế giới: Để người sản xuất nhỏ cùng làm chủ nền tảng số
Trong nền kinh tế số, một cửa hàng nhỏ, người lái xe hay hộ sản xuất có thể tiếp cận khách hàng chỉ bằng một chiếc điện thoại. Nhưng sự thuận tiện ấy thường đi kèm nghịch lý - họ hoạt động trên nền tảng nhưng gần như không có quyền quyết định phí dịch vụ, cách phân phối đơn hàng hay việc dữ liệu được sử dụng ra sao. Hợp tác xã nền tảng số mở ra một cách tổ chức khác, nơi những người tạo ra giá trị cùng sở hữu và quản trị hạ tầng kết nối họ với thị trường.
Không chỉ tham gia mà làm chủ nền tảng
Thương mại điện tử và kinh tế nền tảng đã mở ra thị trường rộng lớn cho hàng triệu hộ kinh doanh, người lao động tự do và nhà sản xuất nhỏ. Người bán có thể nhận đơn qua ứng dụng; tài xế tìm khách mà không phải đợi ở bến; hộ nông dân giới thiệu sản phẩm tới người mua ở xa. Công nghệ giúp giảm chi phí tìm kiếm khách hàng, thanh toán và tổ chức giao nhận.
Tuy nhiên, phần lớn nền tảng phổ biến thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc nhà đầu tư bên ngoài. Người bán, người lao động và khách hàng tạo nên mạng lưới, phát sinh giao dịch và cung cấp dữ liệu nhưng ít có tiếng nói đối với “luật chơi”. Nền tảng có thể thay đổi mức chiết khấu, điều kiện hiển thị, tiêu chí xếp hạng hoặc cơ chế khóa tài khoản. Một cửa hàng tưởng như đã bước vào thị trường số vẫn có thể phụ thuộc vào một trung gian duy nhất.

"Hợp tác xã số" Tricargo‧de đặt trụ sở tại Hambourg, cung cấp dịch vụ giao hàng bằng xe đạp, thành viên của CoopCycle. Nguồn: arcinnovation.fr
Hợp tác xã nền tảng số ra đời từ khoảng trống đó. Theo Platform Cooperativism Consortium, đây là doanh nghiệp cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ chủ yếu qua website, ứng dụng hay giao thức số, đồng thời dựa trên quyền sở hữu chung và cơ chế ra quyết định dân chủ của người lao động hoặc người sử dụng. Nói ngắn gọn, mô hình kết hợp công nghệ của kinh tế nền tảng với nguyên tắc của kinh tế hợp tác.
Nếu ứng dụng gọi xe thông thường thuộc về công ty công nghệ và tài xế chỉ là đối tác, thì trong hợp tác xã nền tảng, tài xế có thể đồng thời là thành viên góp vốn và đồng chủ sở hữu. Với sàn thương mại điện tử hợp tác, người bán có thể cùng quyết định biểu phí, thuật toán hiển thị và cách phân phối giá trị.
Điều cốt lõi không nằm ở việc hợp tác xã có website hay ứng dụng. Một hợp tác xã truyền thống sử dụng phần mềm kế toán hoặc mở gian hàng trực tuyến mới chỉ là hợp tác xã được số hóa. Chỉ khi nền tảng trở thành phương tiện kinh doanh chủ yếu và thành viên có quyền sở hữu, kiểm soát thực chất, mô hình mới mang đầy đủ đặc trưng của hợp tác xã nền tảng số.
Ba lớp sở hữu trong một mô hình mới
Trong doanh nghiệp nền tảng thông thường, quyền lực thường tập trung ở quyền sở hữu doanh nghiệp, phần mềm và dữ liệu. Hợp tác xã nền tảng tìm cách phân bổ lại cả ba lớp quyền lực ấy.
Trước hết là quyền sở hữu doanh nghiệp. Thành viên có thể là người lao động, nhà sản xuất, người bán, khách hàng hoặc nhiều nhóm cùng tham gia. Họ góp vốn theo điều lệ và bầu bộ máy quản trị. Quyền quyết định thường dựa trên nguyên tắc “một thành viên, một phiếu”, thay vì hoàn toàn phụ thuộc vào số vốn nắm giữ. Nhờ đó, một nhà đầu tư lớn khó có thể đơn phương chi phối nền tảng.
Thứ hai là quyền đối với hạ tầng công nghệ. Phần mềm có thể được tự phát triển, thuê xây dựng hoặc dùng chung giữa nhiều hợp tác xã. Một liên hiệp có thể xây dựng lõi phần mềm cho đặt hàng, thanh toán, giao nhận và quản lý thành viên; từng đơn vị điều chỉnh cho phù hợp với cộng đồng. Công nghệ nhờ vậy trở thành hạ tầng được chia sẻ.
Thứ ba là quyền đối với dữ liệu. Thay vì mặc nhiên để nền tảng khai thác lịch sử bán hàng, đánh giá của khách hay sản lượng, thành viên có thể quyết định dữ liệu được dùng vào mục đích gì và chia sẻ với ai. Với sự đồng ý của chủ thể, dòng tiền số ổn định còn có thể giúp hộ kinh doanh chứng minh khả năng trả nợ dù không có tài sản lớn để thế chấp.
Không chỉ dành cho thương mại điện tử
Hợp tác xã nền tảng số có thể hình thành trong nhiều lĩnh vực. Đó có thể là chợ trực tuyến do người bán, nông dân hoặc cửa hàng địa phương cùng sở hữu. Thành viên dùng chung gian hàng, quảng bá, thanh toán và logistics nhưng vẫn giữ thương hiệu và quan hệ với khách hàng.
Trong vận tải và giao hàng, tài xế có thể cùng sở hữu ứng dụng, quyết định mức phí và cơ chế phân phối đơn. Với lao động tự do, nền tảng kết nối gia sư, thợ sửa chữa hay người chăm sóc tại nhà với khách hàng. Các văn phòng chuyên môn có thể cùng đầu tư phần mềm và hệ thống an ninh mạng. Trong nông nghiệp, thủy sản, dữ liệu về sản lượng, chi phí và truy xuất nguồn gốc giúp thành viên tăng khả năng thương lượng, tiếp cận tín dụng và chứng minh tiêu chuẩn bền vững.
Giữ lại giá trị cho thành viên và cộng đồng
Ưu thế dễ thấy của mô hình là khả năng giảm phí trung gian. Khi nền tảng không phải ưu tiên lợi nhuận ngắn hạn cho nhà đầu tư bên ngoài, doanh thu có thể được dùng để nâng thu nhập cho người lao động, giảm chiết khấu cho người bán, cải thiện dịch vụ hoặc tái đầu tư vào công nghệ.
Lợi ích không chỉ nằm ở mức phí. Thành viên còn có tiếng nói đối với những quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế: cơ chế phân phối đơn hàng được công khai; đình chỉ tài khoản phải có căn cứ và quy trình khiếu nại; thay đổi biểu phí cần được thảo luận; thặng dư có thể được hoàn trả theo mức độ giao dịch hoặc đóng góp.
Ở cấp độ địa phương, nền tảng hợp tác giúp giữ lại phần lớn hơn giá trị trong cộng đồng, trả công cho người lao động và nâng cấp hạ tầng chung. Cửa hàng nhỏ tiếp cận khách trực tuyến mà không nhất thiết phải trao toàn bộ dữ liệu và quan hệ khách hàng cho một sàn độc quyền.
Không phải chiếc đũa thần
Hợp tác xã nền tảng số không tự động thành công chỉ nhờ cấu trúc sở hữu dân chủ. Thách thức đầu tiên là hiệu ứng mạng: khách hàng thường chọn nơi có nhiều người bán, trong khi người bán muốn đến nơi đã có nhiều khách. Một hợp tác xã mới, ít vốn quảng bá và trợ giá, khó cạnh tranh với nền tảng lớn đã chiếm lĩnh thị trường.
Phần mềm phải được cập nhật, bảo đảm an ninh mạng và tuân thủ quy định về thanh toán, thuế, lao động, dữ liệu. Hợp tác xã lại khó thu hút vốn mạo hiểm vì yêu cầu chi phối của nhà đầu tư có thể xung đột với quyền kiểm soát của thành viên. Quản trị dân chủ cũng không đơn giản: càng nhiều nhóm lợi ích, việc thống nhất biểu phí, tiêu chuẩn dịch vụ và hướng đầu tư càng phức tạp. Mô hình vì thế cần pháp luật phù hợp, vốn dài hạn, hạ tầng số công cộng, tiêu chuẩn dữ liệu mở và năng lực quản trị.
Đưa người nhỏ lẻ vào kinh tế số với vị thế chủ động
Hộ kinh doanh cá thể mạnh về sự linh hoạt, tay nghề và quan hệ với khách hàng địa phương nhưng thường yếu về công nghệ, vốn, dữ liệu và quy mô. Nền tảng hợp tác có thể ghép những năng lực phân tán thành hạ tầng chung: cùng mua công nghệ, xây dựng thương hiệu, tổ chức giao nhận và thương lượng với ngân hàng, nhà cung cấp cũng như thị trường.
Điểm đáng chú ý nhất của mô hình không phải là thay mô hình chợ truyền thống bằng một ứng dụng. Đó là sự dịch chuyển từ vị thế “được tham gia” sang “có quyền quyết định”; từ thuê chỗ trên nền tảng của người khác sang cùng sở hữu con đường đưa sản phẩm tới khách hàng.
Trong kỷ nguyên dữ liệu, câu hỏi không chỉ là có bao nhiêu hộ kinh doanh được đưa lên mạng mà còn là ai sở hữu hạ tầng, ai đặt ra luật chơi, ai kiểm soát dữ liệu và ai hưởng giá trị do số hóa tạo ra. Hợp tác xã nền tảng số đưa ra một lời giải đáng suy ngẫm: công nghệ có thể hiện đại, quy mô có thể mở rộng, nhưng người tạo ra giá trị vẫn đứng ở trung tâm của quyền sở hữu và quản trị.
