Mở hướng thoát nghèo cho đồng bào Rục ở Mò O Ồ Ồ

Ở bản Mò O Ồ Ồ, xã Kim Phú, tỉnh Quảng Trị, những túi ốc lèn trên vai bà con người Rục hôm nay không còn chỉ là sản vật của rừng, mà đang trở thành một hướng sinh kế thiết thực, giúp nhiều hộ có thêm tiền trang trải cuộc sống. Từ việc khai thác hợp lý nguồn lợi tự nhiên, chăm lo ruộng lúa nước đến thay đổi nếp nghĩ trong lao động sản xuất, đời sống của đồng bào nơi vùng lõi Rục Làn đang từng bước chuyển động. Phía sau sự đổi thay ấy là vai trò lãnh đạo của chi bộ bản, sự đồng hành bền bỉ của cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Trị.

Chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng cùng đồng đội giúp đồng bào Rục thu hoạch lúa. Ảnh: Hoài Nam

Chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng cùng đồng đội giúp đồng bào Rục thu hoạch lúa. Ảnh: Hoài Nam

Khai mở sinh kế từ nguồn lợi bản địa

Từ Đồn Biên phòng Cà Xèng vào bản Mò O Ồ Ồ, chúng tôi phải đi thêm một chặng bằng xuồng máy để vượt qua suối ngầm dưới chân núi đá vôi. Càng vào sâu, những dãy núi đá vôi càng hiện ra trùng điệp, bao bọc lấy Rục Làn-thung lũng nhỏ, nơi đồng bào Rục từng sống trong hang núi trở về định canh, định cư.

Trước đây, khi nhắc đến Mò O Ồ Ồ, nhiều người sống dọc Quốc lộ 12A vẫn hình dung đó là vùng đất xa xôi, cách trở, muốn vào bản phải băng qua dốc núi dựng đứng, đi bộ mải miết mới tới nơi. Từ ngày đồng bào Rục xuống núi, Đảng, Nhà nước đã quan tâm đầu tư điện, nhà ở, trường học, trạm y tế, từng bước đưa cuộc sống nơi đây đổi thay. Tuy vậy, sinh kế của bà con vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là vào mùa mưa, khi việc đi lại, sản xuất và trao đổi hàng hóa bị hạn chế.

Cách đây 7 năm, khi vào Rục Làn, chúng tôi vẫn nghe cán bộ trạm y tế địa phương kể rằng, cứ tới mùa mưa là lại lo nhiều hộ thiếu gạo. Có gia đình phải mua nợ ở quán, năm này qua năm khác chưa trả hết vì đời sống quá khó khăn. Cái nghèo khi ấy không chỉ đến từ thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, mà còn từ tập quán sống dựa nhiều vào rừng, chưa hình thành được những cách làm ăn ổn định. Lần này trở lại, chúng tôi bắt gặp một hình ảnh khác. Trên lối vào bản, nhiều người Rục đeo túi đựng ốc trên vai; có người khiêng cả bao ốc nặng, có người chở ốc bằng xe máy. Qua phiên dịch của cán bộ Biên phòng cắm bản, bà con cho biết, thời gian gần đây, ốc lèn khai thác tự nhiên bán được giá, nhờ đó nhiều gia đình có thêm tiền chi trả những khoản thiết yếu trong gia đình.

Thiếu tá Đinh Nam Viên, nhân viên trinh sát Đồn Biên phòng Cà Xèng, Phó Bí thư Chi bộ bản Mò O Ồ Ồ, cho biết, loài ốc này vốn là thức ăn quen thuộc của người Rục từ thời còn sống trong hang núi, săn bắt, hái lượm. Về sau, người miền xuôi biết đến ốc sống trong các dãy núi đá vôi như một thứ đặc sản. Do không sống dưới bùn lầy, lại ăn các loại rễ cây rừng, thịt ốc sạch, thơm ngon nên được thị trường ưa chuộng. Từ một nguồn thực phẩm tự nhiên, con ốc lèn khai thác tự nhiên dần trở thành sản phẩm có giá trị hàng hóa. Có thời điểm, giá một con ốc lên tới 5.000 đồng; người chăm chỉ có thể bắt được từ 100 đến 200 con mỗi đêm. Với đồng bào ở vùng còn nhiều khó khăn, đó là khoản thu nhập không nhỏ, nhất là trong những thời điểm giáp hạt hoặc khi sản xuất nông nghiệp chưa cho thu hoạch.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là bà con không chỉ nhìn con ốc như nguồn thu trước mắt. Chi bộ bản, cán bộ Biên phòng và chính quyền địa phương đã kiên trì tuyên truyền để người dân hiểu rằng, muốn sinh kế lâu dài thì phải khai thác hợp lý, không tận diệt, không phá rừng, không làm tổn hại môi trường sống của ốc. Đồng chí Cao Xuân Long, Bí thư Chi bộ, Trưởng bản Mò O Ồ Ồ cho biết, chi bộ đã xác định việc phát huy nguồn lợi bản địa, trong đó có ốc sống ở khu vực núi đá vôi, là một trong những hướng để giúp bà con có thêm sinh kế. Song, muốn làm được lâu dài, người dân phải biết giữ rừng, giữ nguồn giống, không khai thác theo kiểu tận thu. “Bà con có thêm thu nhập là điều đáng mừng, nhưng quan trọng hơn là phải biết làm ăn bền vững, để năm nay có, năm sau vẫn còn nguồn sinh kế”, đồng chí Long chia sẻ.

Ở Mò O Ồ Ồ, phát triển kinh tế không chỉ bắt đầu từ con ốc lèn. Nhiều năm qua, cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Cà Xèng đã cùng cấp ủy, chính quyền địa phương vận động, hướng dẫn đồng bào khai hoang ruộng lúa nước, trồng trọt, chăn nuôi, từng bước giảm dần tập quán phụ thuộc vào tự nhiên. Đây là hướng đi có ý nghĩa căn cơ, bởi muốn thoát nghèo bền vững, đồng bào phải có tư liệu sản xuất, biết tổ chức sản xuất và chủ động làm ra lương thực.

Chúng tôi đến thăm bản đúng lúc đồng chí Cao Xuân Long và cán bộ, chiến sĩ Biên phòng vừa cùng bà con gặt xong lúa nước. Đồng chí Long cho biết, ở bản này, muốn vận động bà con làm theo, cán bộ không thể chỉ nói bằng lời. Phải xuống ruộng, cùng làm đất, cùng cấy, cùng gặt, cùng sửa hàng rào, bà con mới tin và làm theo. Cách làm ấy cũng là điều anh học được từ những người lính Biên phòng đã gắn bó với bản nhiều năm qua.

Từ chuyện ủ giống, làm đất đến bón phân, giữ nước, phòng sâu bệnh, cán bộ thôn và cán bộ Biên phòng đều phải hướng dẫn cụ thể. Giai đoạn lúa cần dinh dưỡng, bà con được nhắc bón thêm phân kali clorua để tăng tỷ lệ hạt chắc; nếu lúa phát triển kém có thể bổ sung thêm urê theo liều lượng phù hợp. Từ những việc tưởng nhỏ ấy, đồng bào Rục dần hình thành ý thức sản xuất mới. Bà con biết tính toán mùa vụ, biết chăm cây lúa theo từng giai đoạn, biết bảo vệ thành quả lao động của mình. Đó là sự thay đổi có ý nghĩa lớn, bởi với một cộng đồng từng quen với đời sống săn bắt, hái lượm, việc gắn bó với ruộng đồng, biết quý từng bông lúa, từng thửa ruộng chính là bước chuyển quan trọng trên hành trình ổn định cuộc sống.

Đồng chí Cao Xuân Long và Thiếu tá Đinh Nam Viên (phải), bàn kế hoạch huy động bà con xuống đồng. Ảnh: Lê Văn Chương

Đồng chí Cao Xuân Long và Thiếu tá Đinh Nam Viên (phải), bàn kế hoạch huy động bà con xuống đồng. Ảnh: Lê Văn Chương

Hạt nhân gắn kết ở cơ sở

Đồng chí Cao Xuân Long là người dân tộc Rục, sinh năm 1996, thuộc thế hệ thứ ba của người Rục rời núi xuống định canh, định cư ở vùng lõi Rục Làn. Anh từng là tấm gương tiêu biểu được tôn vinh trong chương trình “Điểm tựa của bản làng” năm 2025. Nhưng khi nói về những đổi thay ở Mò O Ồ Ồ, anh ít nói về mình, mà thường nhắc đến vai trò chung của chi bộ, của bà con và sự đồng hành của Bộ đội Biên phòng khi những vấn đề đưa ra bàn bạc tại chi bộ đều không thiết thực với đời sống hằng ngày của bà con: Vận động học sinh đến trường, chăm sóc ruộng lúa, phòng dịch cho gia súc, bảo vệ rừng, giữ gìn an ninh trật tự, không nghe theo kẻ xấu, không vi phạm quy chế biên giới.

Chính trong những việc cụ thể ấy, vai trò của Bí thư Chi bộ, Trưởng bản Cao Xuân Long được thể hiện rõ. Anh là người am hiểu phong tục, tiếng nói, nếp nghĩ của bà con; đồng thời là cầu nối để chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và hướng dẫn của Bộ đội Biên phòng đến với từng hộ dân. Với đồng bào Rục, sự gần gũi, kiên trì và gương mẫu của cán bộ bản có ý nghĩa rất quan trọng, bởi bà con thường tin những người cùng sống, cùng làm, cùng chia sẻ khó khăn với mình.

Từ câu chuyện con ốc lèn, ruộng lúa nước đến những việc nhỏ hằng ngày trong bản, có thể thấy rõ một hướng đi đang được hình thành ở Mò O Ồ Ồ: Giúp dân thoát nghèo phải bắt đầu từ những nguồn lực sẵn có, phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán của đồng bào, đồng thời từng bước thay đổi cách nghĩ, cách làm.

Những đổi thay ở bản Rục hôm nay không đến từ một việc làm đơn lẻ, mà là kết quả của sự bền bỉ trong công tác dân vận, sự vào cuộc của hệ thống chính trị cơ sở và tinh thần đồng hành của Bộ đội Biên phòng. Từ vùng lõi Rục Làn còn nhiều khó khăn, Mò O Ồ Ồ đang từng bước tìm được hướng đi phù hợp để phát triển kinh tế, ổn định đời sống, xây dựng bản làng ngày càng vững mạnh nơi biên giới.

Lê Văn Chương

Nguồn Biên Phòng: https://bienphong.com.vn/mo-huong-thoat-ngheo-cho-dong-bao-ruc-o-mo-o-o-o-post504700.html