Mở rộng thị trường, nâng chuẩn để sầu riêng Việt tăng giá trị xuất khẩu
Cùng với việc mở rộng thị trường, hệ thống mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và năng lực kiểm nghiệm ngày càng được củng cố, tạo nền tảng để sầu riêng Việt nâng cao giá trị, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và mở rộng dư địa xuất khẩu.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sầu riêng là một trong những ngành hàng nông sản có giá trị kinh tế cao và đang phát triển mạnh tại Việt Nam, với các vùng sản xuất tập trung tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long. Năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 200 nghìn ha, diện tích cho sản phẩm khoảng 129,5 nghìn ha, sản lượng dự kiến đạt 2,08 triệu tấn, tạo nguồn cung lớn cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Sầu riêng đang trở thành một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao của ngành rau quả. Giá trị xuất khẩu tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% tổng giá trị xuất khẩu rau quả. Năm 2025, xuất khẩu sầu riêng đạt gần 1 triệu tấn quả tươi và 117.000 tấn đông lạnh.
Trong 7 tháng năm 2026, cả nước xuất khẩu 493.000 tấn sầu riêng, với giá trị khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng. Đến nay, sầu riêng tươi Việt Nam đã có mặt tại hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biệt, từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam; đồng thời Việt Nam đang tích cực đàm phán mở cửa thêm các thị trường Australia, New Zealand và các thị trường tiềm năng khác.

Sầu riêng một trong những mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao của ngành rau quả. Ảnh minh họa
Bên cạnh đó, nền tảng phục vụ xuất khẩu ngày càng được củng cố. Đến hết tháng 7/2026, cả nước có 1.201 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng đang hoạt động; đồng thời có 1.166 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC) phê duyệt. Việc tiếp tục rà soát, hoàn thiện và mở rộng hệ thống mã số góp phần nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu.
Hệ thống kiểm nghiệm cũng cơ bản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Đến ngày 5/8/2026, GACC đã chấp thuận 50 phòng kiểm nghiệm, trong đó 47 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu Cadimi và 39 phòng kiểm nghiệm chỉ tiêu Vàng O. Tổng công suất của các phòng kiểm nghiệm đang hoạt động khoảng 13.000 mẫu/ngày đối với Cadimi và 10.000 mẫu/ngày đối với Vàng O.
Riêng khu vực Tây Nguyên hiện có 6 phòng kiểm nghiệm được Trung Quốc chấp thuận, với công suất khoảng 900 mẫu/ngày/chỉ tiêu; kết hợp với năng lực kiểm nghiệm tại các khu vực lân cận và trên các tuyến vận chuyển ra cửa khẩu, hệ thống hiện cơ bản đáp ứng nhu cầu kiểm nghiệm trong giai đoạn cao điểm mùa vụ.
Cùng với đó, việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm và đẩy mạnh số hóa dữ liệu đang góp phần tháo gỡ các vướng mắc, rút ngắn quy trình và nâng cao hiệu quả quản lý, tạo thuận lợi hơn cho sản xuất và xuất khẩu.
Với lợi thế về vùng nguyên liệu, sản lượng lớn, thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng, hệ thống mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và năng lực kiểm nghiệm từng bước được củng cố, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẳng định, sầu riêng Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển thành ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao, nâng cao thu nhập cho người sản xuất và khẳng định vị thế nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang triển khai đàm phán cấp kỹ thuật với Tổng cục Hải quan Trung Quốc (GACC). Dự kiến, đoàn cấp cao của Bộ sẽ làm việc với lãnh đạo GACC tại Trung Quốc từ ngày 20 - 22/8 để trao đổi, tháo gỡ các vướng mắc. Đồng thời, đề nghị phía Trung Quốc đẩy nhanh tiến độ phê duyệt mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, phòng kiểm nghiệm và thống nhất các biện pháp tạo thuận lợi cho việc thông quan các lô hàng sầu riêng.











