Mở sinh kế du lịch dưới tán rừng
Bên cạnh nguồn đa dạng sinh học quý giá, những cánh rừng phía tây thành phố là không gian văn hóa của đồng bào Cơ Tu, Xê Đăng, Gié Triêng. Khai thác các giá trị một cách hợp lý để phát triển du lịch dưới tán rừng đang được đặt ra.

Sâm Ngọc Linh được người dân và doanh nghiệp trồng dưới tán rừng tại xã Trà Linh. Ảnh: TRUNG LÊ
Khi người dân có thể sống bằng dịch vụ du lịch, sản vật và tri thức bản địa, rừng sẽ được nhìn nhận như một tài sản lâu dài cần gìn giữ. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành sinh kế bền vững, thành phố cần một chính sách đủ dài hạn, xác lập rõ quyền lợi của cộng đồng và giới hạn khai thác đối với từng hệ sinh thái.
Không gian giàu bản sắc
Tháng 3/2023, Hợp tác xã Nông nghiệp sinh thái và du lịch cộng đồng Hòa Bắc thành lập với 19 thành viên, kết nối các hộ thành chuỗi cung ứng. Bên cạnh đón khách, cộng đồng làng còn tổ chức gìn giữ văn hóa, phát triển nông nghiệp hữu cơ, tạo sinh kế và bảo vệ rừng.
Bà Trần Thị Phương, người dân thôn Giàn Bí, cho rằng làm du lịch bền vững trước hết phải giữ và khôi phục rừng nguyên sinh. Những lớp trải nghiệm trồng cây, dệt thổ cẩm, đan lát vì thế vừa tạo thu nhập, vừa giúp du khách hiểu hơn trách nhiệm đối với tự nhiên.
Đối với khu vực phía tây thành phố, tài nguyên văn hóa được bảo tồn ở những làng Cơ Tu ở Tà Lang, Giàn Bí, rồi nối đến Bhơ Hôồng, Đhrôồng, Pơr’ning, Đỉnh Quế, rừng cây di sản pơ mu Hùng Sơn và vùng sâm Ngọc Linh. Đó là không gian rộng lớn, nơi rừng, suối, làng bản, nương rẫy và văn hóa cộng đồng tồn tại trong mối quan hệ khó tách rời.
Làng Bhơ Hôồng, xã Sông Kôn đã có hơn một thập niên làm du lịch cộng đồng. Sản phẩm hiện khá đa dạng, từ lưu trú homestay, ẩm thực, dệt thổ cẩm, đan lát, bắn nỏ, biểu diễn dân ca, nhạc cụ đến tắm suối Malu, trekking thác Areec và suối Duôi. Theo chị Đinh Thị Thìn, Giám đốc Công ty TNHH Du lịch Hành trình văn hóa Cơ Tu, điểm đến duy trì hơn 50 khách lưu trú và hơn 100 lượt khách trải nghiệm mỗi tháng, phần lớn là khách quốc tế được kết nối qua khoảng 30 doanh nghiệp lữ hành.
Ở Tây Giang trước đây, rừng cây di sản pơ mu, Đỉnh Quế và làng truyền thống Cơ Tu tạo nên một không gian phù hợp với trekking, nghiên cứu thiên nhiên và tìm hiểu văn hóa giữ rừng. Tại vùng Nam Trà My, các hành trình săn mây Tăk Pổ, tìm hiểu vùng trồng sâm và đời sống đồng bào Xê Đăng đang mở thêm hướng kết nối du lịch miền núi.
Tháng 7/2026, ngành du lịch thành phố cùng các doanh nghiệp khảo sát chuỗi điểm phía tây gồm Bhơ Hôồng, Đhrôồng, Pơr’ning, Đỉnh Quế, rừng pơ mu và Cổng Trời Đông Giang. Sau khảo sát, một số đơn vị đã thử nghiệm hành trình “Chạm vào nguyên bản”, kết nối trung tâm Đà Nẵng - Tam Kỳ - làng săn mây Tăk Pổ, thu hút hơn 200 lượt khách bước đầu. Doanh nghiệp cũng nghiên cứu tuyến 2-3 ngày kết nối suối rừng, làng quê, vùng sâm và không gian văn hóa cộng đồng.

Du khách trải nghiệm văn hóa đồng bào Xê Đăng. Ảnh: HỒ QUÂN
Cần cơ chế thu hút doanh nghiệp
Mới đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có văn bản trả lời kiến nghị của cử tri Đà Nẵng đề nghị phát triển du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm và du lịch văn hóa dưới tán rừng; đồng thời xây dựng cơ chế thu hút doanh nghiệp, tổ chức và người dân tham gia, qua đó tạo việc làm, tăng thu nhập và góp phần bảo vệ rừng.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định du lịch cộng đồng là sản phẩm được ưu tiên nhằm khai thác giá trị thiên nhiên, văn hóa bản địa, tạo sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số, cư dân miền núi; đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học và thúc đẩy phát triển bền vững.
Một nền tảng quan trọng là Đề án Phát triển du lịch cộng đồng tại Việt Nam, ban hành theo Quyết định số 3222/QĐ-BVHTTDL ngày 30/10/2024. Đề án định hướng chuyên nghiệp hóa du lịch cộng đồng, bảo tồn cảnh quan, không gian văn hóa và bảo vệ môi trường; tiến tới đáp ứng Tiêu chuẩn du lịch cộng đồng ASEAN.
Bộ cũng cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện cơ chế, chính sách; tổ chức khảo sát, xúc tiến, quảng bá và kết nối doanh nghiệp lữ hành với các điểm đến. Trong một văn bản trả lời cử tri trước đó, Bộ đề nghị lồng ghép nguồn lực của các chương trình mục tiêu quốc gia; hỗ trợ đào tạo nhân lực, xúc tiến đầu tư, ưu đãi thuế, phí và tạo điều kiện để hộ dân, hợp tác xã tiếp cận vốn vay ưu đãi.
Việc xây dựng cơ chế mới cho toàn bộ không gian phía tây, với tiêu chí sinh thái chặt chẽ hơn được đặt ra. Mỗi điểm đến phải được đánh giá sức chứa, phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng được phép trải nghiệm và khu cung ứng dịch vụ; có quy chế về rác thải, nước thải, tiếng ồn, phòng cháy chữa cháy rừng và cứu hộ trên các tuyến trekking.
Hiện tại, Đà Nẵng có hơn 745.000ha diện tích rừng và diện tích đã trồng cây rừng. Tỷ lệ che phủ rừng tương ứng 58,25%. Thời gian gần đây, mô hình khai thác du lịch dưới tán rừng mang lại lợi ích kép, vừa tạo sinh kế bền vững cho đồng bào, vừa góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, bảo tồn hệ sinh thái và giữ gìn cảnh quan thiên nhiên.
Bí thư Đảng ủy xã Hùng Sơn Nguyễn An cho biết, địa phương xác định phát triển du lịch sinh thái dưới tán rừng là hướng đi quan trọng, song phải đặt yêu cầu bảo tồn lên hàng đầu. Toàn bộ quá trình khai thác giá trị rừng đều được tính toán theo hướng hài hòa giữa gìn giữ hệ sinh thái, bảo vệ cảnh quan nguyên sinh và tạo sinh kế bền vững cho người dân vùng cao.
Tại đề án “Phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035” (UBND thành phố phê duyệt hồi tháng 4/2026) yêu cầu hình thành vùng nông nghiệp hữu cơ gắn du lịch trải nghiệm nông thôn.
Theo đó, 16 không gian nông nghiệp hữu cơ gắn với du lịch trải nghiệm, trong đó, nội dung du lịch nông nghiệp hữu cơ miền núi có 4 điểm du lịch được lựa chọn, bao gồm Kết nối điểm du lịch cây ăn quả hữu cơ gắn làng Bơ Hoong (bòn bon) - suối nước nóng (xã Sông Kôn); Điểm du lịch nông nghiệp hữu cơ gắn với khu du lịch sinh thái cổng trời Đông Giang (xã Bến Hiên); Điểm Du lịch nông nghiệp hữu cơ Sâm Ngọc Linh - Đền thờ thần Sâm Ngọc Linh tại Nóc Kon Pin (xã Trà Linh); Du lịch dựa vào cộng đồng gắn với nông nghiệp hữu cơ tại xã Bến Giằng.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/mo-sinh-ke-du-lich-duoi-tan-rung-3349879.html

