Một thoáng Tén Tằn

...Tiếng sông nước Tén Tằn vẫn réo ngoài kia như tiếng cổ sử đang nhắc nhở: đất này hiểm, nhưng người thì hiền. Tôi hiểu vì sao tiến sĩ Vương Duy Trinh đã viết: “dân phong chất phác”. Cụ Sìn nói thêm một câu khiến tôi nhớ mãi: “Muốn hiểu Tén Tằn thì phải qua Tén Tằn bằng tấm lòng, mà không phải chỉ bằng con mắt”.

Lực lượng chức năng hai tỉnh Thanh Hóa - Hủa Phăn tuần tra bảo vệ biên giới đoạn dọc sông Mã qua Cửa khẩu Tén Tằn. Ảnh: Ngọc Huấn

Lực lượng chức năng hai tỉnh Thanh Hóa - Hủa Phăn tuần tra bảo vệ biên giới đoạn dọc sông Mã qua Cửa khẩu Tén Tằn. Ảnh: Ngọc Huấn

1. Sông Mã phát nguyên từ Tây Bắc, chảy qua Lào và đổ vào Thanh Hóa ở thôn Tén Tằn và chảy thêm 242km nữa thì đổ ra cửa Lạch Trào (Sầm Sơn). Vào năm cuối thập niên tám mươi của thế kỷ trước, nhân tham gia dự án phim Ở nơi Đẻ đất Đẻ nước, tôi được đọc cuốn sách quý Thanh Hóa quan phong của tiến sĩ, học giả Vương Duy Trinh, viết từ những năm đầu của thế kỷ XX và thuộc nằm lòng các câu: “Phong tục Thanh Hóa, dân phần nhiều chất phác, sĩ phần nhiều cương trực. Người miền núi tuy mộc mạc mà hiếu tình, không quên nghĩa”. Càng đọc kỹ Thanh Hóa quan phong, tôi càng tâm đắc những điều mà các nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa đất nước cho rằng, xứ Thanh là một tiểu vùng văn hóa, nơi hội tụ của các dòng văn hóa Việt, Mường, Thái, Dao, Mông, Thổ...; nơi có một miền Tây trùng điệp đại ngàn với “sáu châu” là Thường Xuân, Lương Chánh (vùng Lang Chánh), Ngọc Lặc, Cẩm Thủy, Quan Hóa và Thạch Thành. Từ bấy, tôi luôn ao ước có được một chuyến đi trải nghiệm đến.

Gần đây, tôi mới có dịp thực hiện chuyến đi và may mắn làm sao lại được đi bằng xe máy “xã hội hóa” trong thời gian hơn 5 ngày. Số là, vào dịp lễ hội Chí Linh Sơn, tình cờ gặp được một đồng đội cũ thời cuối chiến tranh chống Mỹ, tên là Vi Văn Vu. Xin nói thêm rằng, hồi đầu bảy lăm (1975), tôi và Vu là lính cùng đơn vị. Trong tiểu đội mười người, ngoài tôi ra, còn lại là toàn tân binh dân tộc Thái. Trong số này, Vu lớn tuổi hơn cả. Vu, tướng con nhà võ, cao 1,82m, vai rộng, mày tằm, miệng vuông. Vu hiện là thầy giáo dạy chữ Thái miễn phí ở xã Linh Sơn nên khi tôi đưa ra đề nghị, liền được anh chấp nhận ngay. Tuy rất nhiệt tâm và có hẳn một thời gian biểu rạch ròi, Vu vẫn bảo tôi: “Dăm bảy ngày, đi sáu châu chỉ là cưỡi ngựa xem hoa thôi”. Tôi đề nghị có thể đi cả tháng, Vu lắc đầu, nói: “Sức khỏe anh chưa chắc đã trụ được đâu, ta cứ tùy cơ ứng biến, lấy được việc và sức khỏe làm trọng!”. Nghe lời Vu, tôi lên đường cùng anh và điểm đến đầu tiên của “sáu châu” trong Thanh Hóa quan phong là thôn Tén Tằn, một cửa sông mà có nhà thơ đã viết: “Cửa Tén Tằn sông Mã dồn quý thủy/ Xây đắp miền cốt cách mấy tầng văn”.

2. Theo kế hoạch vận trù, Vu đưa tôi đến điểm cần đến nhất là cửa Tén Tằn. “Con” Min-khơ (Minsk), tuy cũ mã mác nhưng còn khá đắc dụng với lộ trình miền sơn cước. Trong câu chuyện đường rừng dài dặc với Vu, tôi bị bất ngờ và ngạc nhiên, vì anh khá am tường về cuốn Thanh Hóa quan phong và tác giả Vương Duy Trinh. Anh kể: “Cụ Tổng đốc Vương Duy Trinh gốc người Nông Cống. Mỗi khi cụ đi kinh lý miền sơn cước, thay vì chỉ ghi chép chính trị hành chính, cụ luôn say mê quan sát phong tục, ca dao, nhạc cụ, trang phục, ẩm thực, và tín ngưỡng của các dân tộc Mường, Thái, Dao, Mán, Khơ Mú, Thổ... Chữ cụ viết cô đọng chỉ vài ba câu mà đủ nói về bản sắc miền núi xứ Thanh: “Phong tục chốn sơn phòng tuy khác với người Việt đồng bằng, song phần lớn có nghĩa lý sâu xa, không thể coi thường”. Cụ không xem tục lệ của người miền núi là hủ tục, mà nhận ra ở đó là tinh hoa của nhân loại sơ khai, là đạo lý sống thuận với tự nhiên”.

Vừa đến cửa Tén Tằn, Vu dẫn một câu trong Thanh Hóa quan phong về đất và người sở tại: “Giang lộ nan hành, nhi duy dân phong chất phác” (Đường sông nước hiểm trở khó đi, chỉ có dân tình là hồn hậu chất phác). Đang khi ấy thì một cụ già chèo thuyền gỗ đến. Hóa ra Vu đã điện thoại trước, hẹn cụ đến đón khách. Cụ tên là Lò Văn Sìn, người quen biết của Vu. Cụ Sìn tám bảy tuổi, tóc bạc trắng, nhưng thân hình còn khá rắn rỏi, da đen sạm như gỗ lim, mắt sáng, ánh nhìn cương nghị. Sau khi được Vu “thông danh tính”, cụ Sìn vừa chèo thuyền sang sông, vừa kể: “Tén Tằn từng nuốt không biết bao nhiêu con thuyền của người lạ nhưng với người nhà thì không. Qua lại ngược xuôi sông Mã không khó, chỉ khó với kẻ không hiểu nó”. Đến giữa dòng, nước bỗng nổi xoáy, cụ Sìn đổi thế chèo nhanh đến nỗi tôi không kịp nhìn. Con thuyền gỗ nhỏ khẽ lách, trượt qua đúng khoảnh khắc dòng nước đập vào vách đá ùa ra. Cụ cười, tiếng cười vang cùng giọng nói pha chút khôi hài: “Sông Mã đang thử ông khách đó. Sông muốn hỏi, người đi qua có phải người ngay thẳng hay không?”.

Ở Tén Tằn, những thửa ruộng bậc thang được đồng bào các dân tộc thiểu số chăm sóc kỹ càng. Ảnh: Trần Đàm

Ở Tén Tằn, những thửa ruộng bậc thang được đồng bào các dân tộc thiểu số chăm sóc kỹ càng. Ảnh: Trần Đàm

Khi lên bản, vào nhà cụ Sìn, tôi gặp cô Lò Thị Na, cháu nội cụ. Cô Na mới mười tám tuổi, da trắng tươi, tóc xõa ngập hai bờ vai. Theo giới thiệu của Vu, cô từng đạt giải hoa khôi của huyện đoàn hồi đầu năm học cấp III, hiện đang là bí thư đoàn thanh niên kiêm đội trưởng văn nghệ. Cô khoe chiếc mo cau cũ, bảo là có từ thời cụ cố. Cô treo chiếc mo trước hiên làm đồ chơi cho bọn trẻ để chúng biết chuyện xưa, nhưng không sợ chuyện xưa.

Tối ấy, Vu và tôi ở lại thôn. Tiếng sông nước Tén Tằn vẫn réo ngoài kia như tiếng cổ sử đang nhắc nhở: đất này hiểm, nhưng người thì hiền. Tôi hiểu vì sao tiến sĩ Vương Duy Trinh đã viết: “dân phong chất phác”. Cụ Sìn nói thêm một câu khiến tôi nhớ mãi: “Muốn hiểu Tén Tằn thì phải qua Tén Tằn bằng tấm lòng, mà không phải chỉ bằng con mắt”.

Thôn tổ chức liên hoan văn nghệ tại sân nhà cụ Sìn. Trước khi tiết mục bắt đầu, cụ rỉ tai tôi: “Mường Lát là đất thuộc châu Quan Hóa xưa, được coi là cửa ngõ Tây Bắc của Thanh Hóa ta đấy ông khách ạ. Người Thái chúng tôi biết “Chiêng vang rừng gọi gió, trống dậy bản đón mưa”; “biết dạy con cháu bằng khặp”...

Cụ Sìn dừng vì người dẫn chương trình Lò Thị Na bắt đầu “phi lộ” dẫn chương trình văn nghệ hát khặp bằng câu: “Người không học khặp, gió bay mất tiếng/ Người quên lời khặp, bản mờ ngọn khói. Đây là trường học đầu tiên của trí nhớ dân tộc Thái chúng ta!”. Cô Na vừa dứt lời thì một đôi nam thanh nữ tú trong trang phục lễ hội bước ra “khặp” giao duyên. Cô gái xướng: “Nặm Tén Tằn lăm lai lăm lảy/ Pong piệc hơm khơm phạ sláy lảu mường/ Mường Lát pắng pơi lưng nương/ Khom nả pốc bản tướng nhưa khỏn” (Dòng nước Tén Tần chảy lấp lánh/ Khói chiều vấn vít tựa mây bay. Mường Lát nương phơi, lưng núi biếc/ Bản làng gom bóng núi dựng thành quê). Chàng trai: “Đêm Tén Tằn mạy đon lang bản/ Sao huôn mường cản lản khỏng lèn cao/ Ái ơi, hác nhau khặp nả trao/ Bươn nặm đắp lảu chao mà khẳm” (Đêm Tén Tằn, bản làng im ấm/ Sao trải đầy trời, sáng cả lèn cao/ Em gọi anh bằng câu khặp trao duyên/ Dòng nước chảy mãi, nối lời mình bền chặt)...

Cuộc vui kéo dài đến mười giờ đêm thì “bà con về nghỉ để mai còn sản xuất” như cách nói của cụ Sìn.

3. Chiều hôm sau, chính cụ Sìn lại chở thuyền đưa chúng tôi sang sông. Cụ chỉ về phía cửa Tén Tằn nói như dặn lại khách bằng câu khặp: “Bươn nặm đắp lảu chao mà khẳm” (Dòng nước chảy mãi, nối lời mình bền chặt). Lời dặn của già làng nơi cửa sông địa đầu xứ Thanh mới ân tình làm sao! Hai ngày một đêm du khảo tại Tén Tằn, chỉ là thời gian “bóng câu” của đời người. Song những gì tôi ao ước gần bốn mươi năm trước từ những trang “cảo thơm” Thanh Hóa quan phong đã được đền đáp đến độ lung linh và tôi càng thêm quý yêu câu thơ: “Cửa Tén Tằn sông Mã dồn quý thủy/ Xây đắp miền cốt cách mấy tầng văn” (thơ Nguyên Trực)

Lê Ngọc Minh (CTV)

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/mot-thoang-ten-tan-45235.htm