Giữ hồn làng cổ, phố cổ để tạo nguồn lực phát triển
HNN.VN - Đi giữa những con ngõ của Phố cổ Kashgar ở Tân Cương, tôi nghĩ nhiều đến Huế. Mỗi nơi có một lịch sử, một cấu trúc văn hóa và một cách phát triển khác nhau, nhưng đều đặt ra cùng một câu hỏi: làm thế nào để di sản không chỉ được giữ lại như ký ức của quá khứ mà còn tiếp tục sống trong đời sống đương đại, tạo sinh kế cho người dân và trở thành nguồn lực cho phát triển.

Tác giả trước thành cổ Kashgar. Ảnh: Đỗ Trang
Với Huế - nơi có không chỉ quần thể di tích Cố đô mà còn có phố cổ Bao Vinh, Gia Hội, làng cổ Phước Tích, cầu ngói Thanh Toàn, những nhà rường, nhà vườn và nhiều làng nghề truyền thống - câu hỏi ấy càng có ý nghĩa trong hành trình xây dựng một đô thị di sản đặc sắc, sáng tạo và giàu sức sống.
Di sản chỉ sống khi cộng đồng còn sống trong di sản
Hôm nay, khi đi trong Phố cổ Kashgar, điều khiến tôi ấn tượng không chỉ là những bức tường màu đất, những ô cửa gỗ, những con ngõ quanh co hay sắc thái kiến trúc Trung Á - Hồi giáo đặc trưng. Điều đáng nhớ hơn là cảm giác đây vẫn là một không gian sống. Người dân ở trong những ngôi nhà ấy, trẻ em chạy qua những con ngõ ấy, những người thợ thủ công làm việc trong các cửa hàng nhỏ, mùi thức ăn tỏa ra từ các căn bếp và dòng khách du lịch hòa vào nhịp sinh hoạt thường ngày. Di sản ở đây vì thế không đứng yên. Nó hiện diện trong đời sống.
Kashgar từng là một điểm quan trọng trên Con đường Tơ lụa, nơi các dòng thương mại và văn hóa gặp nhau qua nhiều thế kỷ. Khi hiện đại hóa diễn ra nhanh, phố cổ cũng đối diện với những vấn đề quen thuộc của nhiều đô thị lịch sử: hạ tầng xuống cấp, nhà ở mất an toàn, điều kiện sống không còn phù hợp, trong khi áp lực du lịch và thương mại ngày càng lớn. Cách tiếp cận được lựa chọn là cải thiện điều kiện sống và hạ tầng, nhưng đồng thời duy trì cấu trúc không gian, phong cách kiến trúc và nhiều thực hành văn hóa truyền thống.
Từ ngày 1/5/2024, một quy định riêng về bảo vệ phố cổ Kashgar có hiệu lực. Điều đáng chú ý trong cách tiếp cận này là bảo tồn không chỉ hướng vào các công trình vật thể mà còn gắn với truyền thừa văn hóa, sử dụng hợp lý và quản lý hoạt động kinh doanh. Quy định cũng đặt vấn đề ngăn ngừa thương mại hóa quá mức và phát triển lộn xộn. Đây là điều rất quan trọng, bởi một khu phố cổ có thể đông khách nhưng chưa chắc còn là một di sản sống nếu cư dân bị đẩy ra ngoài, nghề truyền thống biến mất và mọi căn nhà đều dần trở thành cửa hàng giống nhau.
Từ Kashgar, tôi càng thấy rõ một nguyên tắc: con người phải đứng ở trung tâm của bảo tồn. Chúng ta thường nói đến giữ nhà cổ, giữ mặt đứng, giữ đường phố, nhưng điều khó hơn là giữ được cộng đồng, ký ức, nếp sống và khả năng sinh kế của chính những người đã tạo nên không gian ấy. Khi người dân thấy rằng sống trong di sản không đồng nghĩa với chịu thiệt thòi về điều kiện sống, mà có thể mang lại cơ hội nghề nghiệp, thu nhập và niềm tự hào, bảo tồn mới có nền tảng xã hội bền vững.

Khách vui hội bài chòi ở cầu ngói Thanh Toàn
Từ một quần thể di sản đến một hệ sinh thái di sản sống
Chính từ những con ngõ Kashgar, tôi nghĩ đến Huế. Huế có một lợi thế rất đặc biệt: di sản không chỉ tập trung trong Hoàng thành, lăng tẩm hay các công trình cung đình. Di sản Huế còn trải ra trong đời sống dân cư, từ phố cổ Bao Vinh, phố cổ Gia Hội, làng cổ Phước Tích, cầu ngói Thanh Toàn, những nhà rường, nhà vườn Kim Long - Thủy Biều, đến làng hương, làng nón, hoa giấy, tranh dân gian, gốm, ẩm thực, áo dài, Ca Huế và nhiều phong tục, kỹ năng được trao truyền qua các thế hệ.
Đây chính là nguồn lực rất lớn nếu chúng ta nhìn Huế như một hệ sinh thái di sản sống, chứ không chỉ là một tập hợp di tích. Một du khách có thể đến Huế vì Đại Nội, nhưng điều khiến họ muốn ở lại lâu hơn có thể là một buổi chiều ở nhà vườn, một bữa cơm trong làng, một câu chuyện về nghề gốm Phước Tích, một chuyến đi Bao Vinh, một trải nghiệm ở Thanh Toàn, một buổi nghe ca Huế, một lớp học làm hoa giấy hay một cuộc gặp với nghệ nhân. Khi các lớp văn hóa ấy được kết nối, Huế không chỉ bán một điểm tham quan; Huế tạo ra một hành trình văn hóa.
Năm 2026, Huế đặt mục tiêu đón khoảng 7 - 7,5 triệu lượt khách và đạt tổng thu du lịch khoảng 15.000 tỷ đồng. Để những con số tăng trưởng ấy chuyển thành giá trị bền vững, điều quan trọng không chỉ là có thêm khách, mà là làm cho mỗi du khách ở lâu hơn, chi tiêu nhiều hơn cho sản phẩm bản địa và có nhiều lý do hơn để quay trở lại. Đây chính là lúc làng cổ, phố cổ, nhà vườn và làng nghề cần được nhìn như những không gian kinh tế văn hóa có khả năng tạo việc làm, thu nhập và thương hiệu cho địa phương.
Nhưng kinh tế di sản không thể đồng nghĩa với thương mại hóa di sản. Huế càng có bản sắc thì càng phải thận trọng trước nguy cơ đồng dạng hóa. Nếu Bao Vinh, Gia Hội hay Phước Tích cùng được phát triển theo một công thức, cùng một kiểu cửa hàng, cùng một loại quà lưu niệm, cùng một cách trang trí để 'check-in', chúng ta có thể tăng lượng khách trong ngắn hạn nhưng lại làm nghèo chính thứ tài sản quý nhất là sự khác biệt. Mỗi không gian phải được bảo tồn và phát triển theo căn tính riêng của nó.
Vì vậy, điều Huế cần không phải là biến mọi làng cổ thành điểm du lịch, mà là lựa chọn những mô hình phù hợp, có sức chứa phù hợp, có sản phẩm phù hợp và quan trọng nhất là có sự đồng thuận của cộng đồng. Một ngôi nhà rường vẫn phải là nơi người ta muốn sống; một làng nghề vẫn phải có người trẻ muốn theo nghề; một phố cổ vẫn phải có cư dân, hàng xóm, ký ức và những sinh hoạt bình thường. Du lịch chỉ bền vững khi nó góp phần làm cho đời sống ấy tốt hơn, chứ không thay thế đời sống ấy.

Phố cổ Bao Vinh thu hút khách trong các hoạt động lễ hội.
Nguồn lực cho Huế trong mô hình tăng trưởng mới
Tại Phiên họp thứ hai của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam ngày 13/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nêu yêu cầu chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo, để văn hóa có thể tạo ra tri thức mới, tài sản trí tuệ, sản phẩm, thị trường và sức mạnh mềm quốc gia. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đồng thời nhấn mạnh phát triển công nghiệp văn hóa thành một động lực tăng trưởng mới, với mục tiêu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và 9% vào năm 2045; đặc biệt, Huế được nhắc đến trong nhóm địa phương cần xác định rõ quỹ đất cho các khu, trung tâm công nghiệp văn hóa và đổi mới sáng tạo văn hóa.
Đặt tinh thần ấy vào Huế, tôi cho rằng, trước hết cần chuyển từ bảo tồn từng điểm sang quản trị cả hệ sinh thái. Quy hoạch đô thị, bảo tồn di sản, du lịch, giao thông, thương mại, môi trường, phòng cháy, hạ tầng số và phát triển cộng đồng phải được đặt trong cùng một tầm nhìn. Với làng cổ, phố cổ, nên có những quy chế đủ chi tiết về kiến trúc, vật liệu, biển hiệu, không gian công cộng, hoạt động kinh doanh và sức chứa du lịch, nhưng đồng thời phải có chính sách hỗ trợ thiết thực để người dân sửa chữa nhà ở, cải thiện tiện nghi, tiếp cận vốn và tham gia kinh doanh.
Thứ hai, cần tạo ra các chuỗi giá trị mới từ chính chất liệu Huế. Một câu chuyện về một ngôi nhà rường có thể trở thành sản phẩm kể chuyện số; một mẫu hoa văn cổ có thể đi vào thiết kế đương đại; một nghề truyền thống có thể trở thành workshop trải nghiệm, sản phẩm quà tặng hay thương hiệu tài sản trí tuệ; một làng cổ có thể kết nối với ẩm thực, âm nhạc, nghệ thuật trình diễn, giáo dục di sản và du lịch xanh. Khi đó, di sản không bị 'khai thác' theo nghĩa lấy đi giá trị, mà được chuyển hóa thành nhiều lớp giá trị mới để quay trở lại nuôi dưỡng cộng đồng.

Làng quê Thủy Biều yên bình hiện là điểm du lịch hấp dẫn khách nước ngoài.
Thứ ba, Huế cần coi người dân và nghệ nhân là những đối tác của quá trình phát triển. Cơ chế chia sẻ lợi ích phải rõ ràng; doanh thu từ du lịch và các sản phẩm sáng tạo cần tạo động lực trực tiếp cho người giữ nhà cổ, người làm nghề, người gìn giữ lễ hội và tri thức bản địa. Đồng thời, cần tạo cơ hội cho người trẻ tham gia bằng thiết kế, công nghệ, truyền thông, khởi nghiệp sáng tạo. Khi một bạn trẻ có thể tìm được công việc tốt ngay từ câu chuyện của quê hương mình, đó chính là lúc bảo tồn có thêm một thế hệ kế tục.
Cuối cùng, cần đo hiệu quả phát triển di sản không chỉ bằng số lượt khách. Những chỉ số quan trọng hơn còn là thời gian lưu trú, mức chi tiêu cho sản phẩm địa phương, số việc làm, thu nhập của cư dân, số nhà cổ được bảo tồn, số nghề truyền thống có người trẻ kế nghiệp và số sản phẩm văn hóa được bảo hộ. Nếu đo được những điều ấy, chúng ta mới thực sự thấy văn hóa đóng góp như thế nào vào mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Rời Kashgar, tôi càng tin rằng Huế có thể đi xa trên con đường này bởi Huế có thứ không thể sao chép: một chiều sâu văn hóa đã thấm vào cảnh quan, kiến trúc, con người và nếp sống. Điều cần thiết là đừng chỉ giữ Huế như một bức tranh đẹp của quá khứ. Hãy để quá khứ tiếp tục sinh thành giá trị cho hiện tại và tương lai. Khi Bao Vinh vẫn có tiếng người trong những ngôi nhà cũ, Phước Tích vẫn có lửa trong lò gốm, Thanh Toàn vẫn có nhịp sống bên cây cầu ngói, những nhà vườn vẫn xanh và người trẻ có thể làm giàu từ sáng tạo trên nền tảng văn hóa quê hương, khi ấy di sản Huế không chỉ được bảo tồn - di sản đang phát triển. Và đó cũng là cách văn hóa trở thành một nguồn lực thực sự của mô hình tăng trưởng mới.
