Mùa nước đổ phía trên cổng trời

Lên biên giới xứ Thanh vào mùa này, dọc những con đường đèo dốc nhìn xuống các thung lũng, sẽ thấy tầng tầng lớp lớp ruộng bậc thang lấp loáng dưới nắng trời. Mùa nước đổ, những thửa ruộng như được tráng gương, in bóng núi non trùng điệp cùng mây trắng phiêu bồng. Chỉ trong vài tuần, những tấm gương 'soi trời' ấy lại chuyển màu mạ non phơi phới. Những cô gái Mông, Thái với đôi tay thoăn thoắt trên từng dảnh mạ, như là đang dệt từng tấm áo cóm, từng dải thắt lưng xanh giữa đất trời biên cương... Mùa nước đổ trên các chân ruộng bậc thang cũng là thời khắc hoa đào, hoa mơ bung nở, bà con chào đón năm mới với nhiều hứa hẹn về một mùa vàng bội thu trên quê hương mình.

Ruộng bậc thang mùa nước đổ.

Ruộng bậc thang mùa nước đổ.

Còn nhớ, năm 2000, trong chuyến đi vượt dốc Cổng Trời lên các bản làng miền Tây Thanh Hóa, chúng tôi được nghe kể rất nhiều về công lao của lực lượng bộ đội biên phòng trong việc giúp dân trồng lúa nước. Theo tập quán làm nông nghiệp lâu đời, bà con các dân tộc thiểu số vùng cao chủ yếu canh tác nương rẫy theo phương thức “phát, đốt, chọc, tỉa”. Lương thực, hoa màu phát triển nhờ thiên nhiên, năm nào có mưa thì được mùa, năm nào khô hạn thì mất mùa, và lúa thì cũng chỉ trồng được một vụ trong năm.

Để giúp dân xóa đói, giảm nghèo, các đồn biên phòng có chủ trương mang giống mới và hướng dẫn kỹ thuật, giúp bà con canh tác lúa nước hai vụ. Nhờ đó, đời sống bà con dần ấm no, không còn cảnh đói giáp hạt triền miên như trước. Việc đưa cây lúa nước lên vùng cao biên giới đã giúp đồng bào Mông dần bỏ tập quán du canh du cư, đốt rừng làm rẫy, biết cải tạo đất để thâm canh lúa nước. Từ đó nạn phá rừng cũng chấm dứt.

Giờ đây, giống nếp Cay Nọi đã được trồng phổ biến trên những cánh đồng bậc thang nằm ven suối và các thung lũng ở những xã nằm phía trên Cổng Trời thuộc địa bàn huyện Mường Lát cũ. Riêng xã Quang Chiểu, bà con đã biến nếp nương Cay Nọi thành sản phẩm OCOP. Vụ mùa năm trước, xã Quang Chiểu gieo cấy hơn 342ha lúa nước, chủ yếu là nếp Cay Nọi. Mùa lúa chín, những ruộng bậc thang vàng óng như lụa, thu hút nhiều nghệ sĩ lên săn ảnh. Nhiều khách thập phương cũng không quản đường xa, tìm đến khám phá vẻ đẹp của vùng đất phía trên dốc Cổng Trời huyền thoại. Sau vụ mùa, đất được phơi ải vài tháng thì sẽ tiếp tục bước vào vụ chiêm xuân. Mùa gối mùa đã mang lại ấm no cho dân bản. Giờ đây, những câu chuyện về “giáp hạt” chỉ còn là ký ức, vùng cao đã không còn đói nữa. Nếp Cay Nọi không chỉ đủ cho bữa ăn hàng ngày của đồng bào, mà còn trở thành thứ gạo đặc sản được bán đi khắp các vùng miền.

Ghé thăm bản Pọng, một bản nằm ở vị trí trung tâm của xã Quang Chiểu, chúng tôi trò chuyện với một số người dân. Bà con phấn khởi cho biết: bản có 107 hộ, 5 năm trước vẫn còn 13 hộ nghèo, 14 hộ cận nghèo, nhưng đến nay chỉ còn 7 hộ cận nghèo. Ngoài diện tích canh tác lúa, bà con còn tích cực trồng sắn, trong năm qua, sản lượng sắn cả bản thu hoạch lên tới 500 tấn, được giá nên gia đình nào cũng có một khoản thu nhập khá vào dịp tết. Ông Vi Văn Bóng, sinh năm 1971, là thành viên ban quản lý bản, chia sẻ thêm: do bà con chăm chỉ làm ăn, cùng với việc được hỗ trợ sinh kế từ nhiều chương trình, dự án, nên giờ đây không còn gia đình nào thiếu gạo; số hộ có tiền gửi tiết kiệm ngân hàng nhiều hơn số hộ vay vốn giảm nghèo. Vào bản Cò Cài của xã Quang Chiểu, chúng tôi nhìn thấy những ngôi nhà sàn vững chãi, dưới gầm sàn mỗi nhà có vài ba tấn lúa sau vụ gặt. Nhà ai cũng có một, hai chiếc xe máy đẹp dựng dưới chân thang, có ti vi, tủ lạnh, nhà vệ sinh tự hoại sạch sẽ...

Đi qua xã Quang Chiểu sẽ đến Mường Chanh, xã có chung đường biên giới dài 22,5km với huyện Viêng Xay, tỉnh Hủa Phăn (Lào), cư dân chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái. Từ năm 2010 trở về trước, Mường Chanh khó khăn đủ bề, tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm tới hơn 85%. Mãi tới năm 2014 xã mới có điện lưới quốc gia. Năm 2018 trận lũ lịch sử tàn phá nặng nề, khiến cho những nỗ lực XDNTM của xã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ngay sau cơn lũ, bản Na Chừa phải di dời đến nơi ở mới vì có tới 70 hộ bị mất nhà. Sau rất nhiều cố gắng khắc phục hậu quả thiên tai, giờ đây Mường Chanh đã thay da đổi thịt. Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã chỉ còn 5,31%. Từ xuất phát điểm XDNTM chưa có gì, đến nay Mường Chanh đã cán đích. Lúa nước trở thành cây nông nghiệp chủ lực với diện tích trên 325ha gieo trồng hai vụ.

Tại các xã Pù Nhi, Nhi Sơn, nơi cách đây hơn 10 năm, chúng tôi đã đến nhiều bản làng để tìm hiểu, phản ánh về việc đấu tranh xóa bỏ hủ tục tang ma trong đồng bào Mông. Với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị địa phương, lực lượng biên phòng và đặc biệt là quá trình tự nhận thức của bà con, đến nay các bản làng, dòng họ người Mông đã không còn lưu giữ những hủ tục truyền đời trong lễ tang như không đưa người chết vào quan tài, để thi hài trong nhà nhiều ngày gây mất vệ sinh và thực hiện nhiều nghi lễ phiền phức tốn kém, làm kiệt quệ kinh tế gia đình... Cảnh những người nghiện ma túy sống lay lắt dưới các mái nhà tồi tàn trước kia không hiếm, nay hầu như đã không còn. Nhờ sự tác động của cán bộ, chiến sĩ biên phòng, tâm lý quen thuộc của nhiều người dân “đói đã có hàng cứu trợ của Nhà nước” hay “chỉ cần làm đủ ăn là được” dần bị xóa bỏ.

Từ một xã vùng cao còn nhiều khó khăn, người dân chủ yếu dựa vào sản xuất tự cung tự cấp, đến nay Pù Nhi đang từng bước hoàn thiện các tiêu chí NTM. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã Pù Nhi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định sớm đưa Pù Nhi trở thành xã phát triển khá trong 76 xã miền núi của tỉnh Thanh Hóa.

Đi dọc Quốc lộ 15C, sẽ thấy ngay bên vệ đường có những vườn đào kiêu hãnh khoe sắc trong sương giá, đi sâu vào dải đồi phía trong là vườn mận tam hoa cũng phủ màu trắng xóa như mây vờn. Chủ nhân của chúng là ông Gia Văn Khua ở bản Lốc Há, xã Nhi Sơn. Được biết, mỗi năm ông có thu nhập từ đào, mận hàng mấy trăm triệu đồng. Đào cảnh, mận hậu, mận tam hoa được trồng ở nhiều bản làng của cả 2 xã Pù Nhi và Nhi Sơn, trở thành loại cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu của đồng bào Mông nơi đây.

Qua hàng chục năm miệt mài tuyên truyền, vận động, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, lực lượng biên phòng Thanh Hóa đã phối hợp với các ngành chức năng và cán bộ địa phương giúp đồng bào các dân tộc thiểu số vùng cao từ bỏ tập quán canh tác lạc hậu, biến đất hoang thành ruộng lúa, vườn đồi, nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Trước kia, sự nghèo khó khiến người ta dễ bị lôi kéo, dẫn dụ vào con đường phạm tội, “đói ăn vụng, túng làm liều”, bởi vậy “cái chết trắng” gieo rắc ở nhiều bản làng, tàn phá nhiều thế hệ, để lại hệ lụy vô cùng lớn. Nay người dân không còn thiếu cơm ăn áo mặc, có nhiều nguồn sinh kế, và đã nhận thức rõ tác hại của ma túy, nên đã khuyên bảo nhau tránh xa. Nhờ đó, những bản NTM, NTM nâng cao, bản sáng vùng biên dần hình thành.

Tham gia chương trình “Xuân biên phòng ấm lòng dân bản” do Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng Thanh Hóa chủ trì, phối hợp với Hội LHPN Thanh Hóa và Đảng ủy, UBND các xã Mường Chanh, Quang Chiểu tổ chức, chúng tôi cảm nhận giữa quân và dân thắm đượm nghĩa tình. Sự quan tâm, chăm lo của lực lượng biên phòng, đảng bộ chính quyền địa phương và các thành phần, lực lượng xã hội đã giúp cho đời sống Nhân dân các xã vùng cao xứ Thanh thay đổi vượt bậc.

Vào mùa nước đổ, may mắn được lên thăm các xã phía trên Cổng Trời, chúng tôi không còn thấy cảnh “hun hút đèo sương, mang mang dốc gió”, với những “vết thương” lở loét trên cơ thể núi đồi do đốt rừng làm rẫy của gần 30 năm trước. Những cánh đồng bậc thang đẹp như tranh vẽ, những khu vườn “hoa cười rạng rỡ với nắng xuân”. Những chân ruộng chưa cấy lấp lánh bạc, những thảm lúa vừa bén rễ thì đẹp như dải thắt lưng thổ cẩm của cô gái Thái trên khung dệt, hay như tấm xế màu xanh trên trang phục của cô gái Mông. Niềm tin rạng ngời trong mắt những bà mế đã sống và chứng kiến sự đổi thay của quê hương suốt gần một thế kỷ đời người, trong nét cười duyên của những nàng sơn nữ đang tuổi yêu phơi phới. Giữa đỉnh đèo mây, nhành đào đá vươn lên dưới trời xanh nắng mới. Xuân đã về trên dốc Cổng Trời!

Bài và ảnh: Mai Hương

Nguồn Thanh Hóa: http://baothanhhoa.vn/mua-nuoc-do-phia-tren-cong-troi-278324.htm