Mùa trăng sông Cầu
“Mùa trăng sông Cầu” kể về một đôi vợ chồng sinh sống ven sông Cầu, không biết vì lẽ gì, bỏ nhau khi đã có bốn mặt con, mỗi người nuôi hai đứa trẻ. Cho dù họ “ghét nhau một cách bí ẩn” thì vẫn thương nhau theo cách rất lạ lùng. Ông ngược lên miền rừng, bà cũng đi theo, để các con “không đứa nào phải xa u cả”. Về già, họ lại dắt díu nhau về bên sông Cầu, người làm nhà bên bờ Bắc, người sinh sống ở bờ Nam. Trong một đêm trăng Rằm, các con chèo thuyền đón mẹ sang bên kia sông. Người cha xuống tận mép nước, chìa bàn tay gầy guộc, người mẹ ngập ngừng rồi đặt bàn tay mình vào lòng bàn tay ông. Đó là cái nắm tay đầu tiên sau hơn năm mươi năm. Ở cái tuổi gần đất xa trời, cơn giận của cả một đời người rồi cũng trở nên nhẹ bẫng như khói sóng...
Truyện ngắn của tác giả Quang Đại. Thy Lan (giới thiệu)
Thày tôi làm nghề thuyền chài trên sông Cầu. U tôi là gái quan họ làng Diềm. Lấy nhau, thày tôi lên bờ cùng làm ruộng với u tôi, bỏ nghề chài lưới.
Cho đến giờ, tôi vẫn không hiểu hai người đã bỏ nhau vì lẽ gì. Họ đưa nhau ra tòa khi đã có tới bốn mặt con. Tôi, em gái cùng hai em trai. Ra tòa, u tôi đòi nuôi hai con gái. Ai cũng bảo, u tôi khôn, biết tôi và em tôi đã lớn, đỡ đần được rồi.
Hôm chính thức “tan đàn xẻ nghé”, cả bốn chị em chúng tôi đều khóc.
U tôi quát:
- Làm gì mà khóc! Tao bỏ thày mày nhưng không bỏ con! Không đứa nào phải xa u cả!
U tôi nói vậy rồi đúng là như thế thật.
Giành hai đứa con lớn rồi u tôi còn lấy luôn cả ngôi nhà tranh bên bờ sông Cầu. Thày tôi vẫn lặng thinh chẳng nói gì, ông định đưa hai em trai tôi đi một nơi nào đó ở thật xa.
Tuy nhiên, u tôi lại vằn mắt, bắt thày tôi không được đi đâu cả, phải trở lại nghề thuyền chài và sống trên thuyền, ngay bờ sông cạnh nhà.
Thế là gia đình tôi nửa dưới nước, nửa trên bờ.
Thỉnh thoảng, u đưa gạo xuống thuyền, thày đem cá lên bờ. Thày, u tôi thường xuyên xuống sông, lên bờ để thăm con. Họ vấp mặt nhau nhưng chẳng nhìn nhau.
Hàng xóm trên bờ và vạn chài đều nghĩ, rồi chỉ “năm bữa nửa tháng” lại quay lại với nhau thôi. Nhưng chúng tôi thì biết, thày, u tôi chỉ vì con chứ họ thực sự đã ghét nhau.
Họ ghét nhau một cách bí ẩn.
U tôi thì quá đáo để. Thày tôi lại cố nhịn vì thương con. Chính tôi lúc ấy là chị cả, đã lớn và hiểu nên biết hết, thày, u tôi tất cả chỉ vì con mà họ buộc phải gần nhau.
Tuy nhiên, những người ghét nhau mà phải ở gần lại là cực hình.

Minh họa: Văn Tĩnh.
Rồi một ngày, thày tôi quyết định bỏ đi. Cuộc ra đi của một nhà thuyền chài ba người thì đơn giản lắm, chỉ vài cua thuyền thày tôi và hai em trai tôi đã xuôi dòng xuống bến Thứa.
U tôi không thấy ba bố con lập tức đi tìm ngay. Tìm thấy, bà đanh mặt bắt ông phải quay về. Thày tôi nhất định không nghe. U tôi phăm phăm về, mắm môi đốt nhà rồi đem nồi niêu, bát đĩa, lôi hai chị em chúng tôi xuống Thứa, làm một ngôi nhà trên bờ sông Đuống.
Rồi còn mấy lần nữa thày tôi buông thuyền đi nơi khác nhưng vẫn bị u tôi tìm ra.
Cuối cùng, thày tôi đã phải chèo thuyền ngược sông mà lên tận Chũ, xin vào làm công nhân một lâm trường. Nghĩa là thày tôi đem hai em tôi đi lên hẳn miền rừng, không còn trên sông nước để u tôi tìm nữa.
U tôi đã đi lục tìm khắp các miền sông mấy năm liền mà không thấy.
Tuy nhiên một hôm, thày tôi đã giật mình khi ngay sát nhà mình đã có một ngôi nhà mới mọc lên. Nó đúng ra chỉ như cái lều với vách nứa, lợp tranh.
U tôi đã nhờ người dựng hộ ngôi nhà ấy chỉ sau vài ngày. Thế là từ ấy, bốn chị em chúng tôi lại bên nhau.
Còn thày, u tôi vẫn cứ ghét nhau.
***
Những năm tháng ở Chũ là chuỗi tháng ngày dằn vặt lặng thầm.
Thày tôi ngày ngày lên rừng hết chặt gỗ lại trồng rừng. Bàn chân làm quen với đất đồi sỏi đá thay vì mạn thuyền. Ông già đi nhanh chóng, bờ vai còng xuống vì việc nặng và có lẽ vì cả cái bóng quá lớn của u tôi vẫn đổ xuống đời ông. U tôi bên này dốc, hằng ngày gánh măng, gánh củi ra chợ đổi gạo. Bà vẫn cực kỳ ghê gớm, mở miệng ra là đay nghiến cái sự "bạc tình, trốn chạy" của thày tôi. Nhưng tuyệt nhiên không một ai xung quanh dám bắt nạt bốn đứa con của bà. Bà như con gà mái xù lông, xòe đôi cánh rộng che chở cho chúng tôi.
Có những đêm mưa rừng tầm tã, nước từ đỉnh núi đổ về gầm vang. U tôi trằn trọc không ngủ. Bà trở mình liên tục trên chiếc phản gỗ, mắt đăm đăm nhìn qua khe vách nứa sang căn lều bên kia, nơi ngọn đèn dầu của thày tôi vẫn leo lét sáng. Tôi biết u tôi lo mái lá nhà thày tôi bị dột, lo chân ông đau mỗi khi trái gió trở trời. Nhưng sáng ra, khi chạm mặt ở lối đi chung, u lại ngoảnh mặt đi, buông một câu lạnh nhạt: "Thân mình chẳng lo xong, còn bày đặt chong đèn thâu đêm".
Thày tôi chỉ im lặng, cúi đầu sửa lại quai dép cao su, rồi lầm lũi vác rìu lên rừng.
Thời gian trôi đi như dòng nước xiết, bốn chị em chúng tôi cứ thế lớn lên trong tình yêu thương kỳ lạ của hai con người ghét nhau, bỏ nhau. Chúng tôi lớn bằng hạt gạo bên bờ sông Thứa, bởi ngọn rau rừng Chũ và bằng cả nỗi im lặng mênh mông giữa thày, u.
Rồi tôi và các em tôi lần lượt trưởng thành, đứa đi bộ đội, đứa lấy chồng xa, đứa ở lại phố Chũ làm công nhân.
Khi gánh nặng con cái đã vơi bớt trên vai, cũng là lúc thày tôi nhận sổ hưu từ lâm trường.
Một buổi sáng đầu thu, thày gọi tôi sang, giọng ông chùng xuống:
- Thày nửa đời lênh đênh sông nước, nửa đời trốn chạy lên ngàn. Giờ thày muốn về lại khúc sông quê.
Tôi rơi nước mắt, nhìn sang nhà bên. U tôi đang đứng bên hiên, vờ như đang quét sân nhưng đôi tai thì dỏng lên nghe ngóng. Bà lẳng lặng vào buồng, thu vén quần áo cho vào chiếc hòm tôn.
Họ lại dắt díu nhau về bên con sông Cầu nhưng theo cái kiểu của hai người... ghét nhau.
Lòng kiêu hãnh và cái ranh giới vô hình suốt mấy chục năm vẫn không thể xóa bỏ. Thày tôi chọn bờ bên bờ Bắc của dòng sông, dựng một nếp nhà ba gian nhỏ nhắn nhìn ra mặt nước. Chỉ một tuần sau, ở bờ đối diện, u tôi cũng mua một mảnh đất bãi, nhờ người dựng lên căn nhà mái ngói đỏ tươi. Hai ngôi nhà nhìn thẳng vào nhau, khoảng cách giữa họ là lòng sông.
Mỗi buổi sớm, khi sương mù còn bảng lảng trên mặt sông, thày tôi ra bến quăng mẻ lưới đầu ngày. Tiếng xích sắt va vào mạn thuyền lách cách vang sang bờ bên kia. U tôi vừa nghe liền trở dậy, nhóm bếp luộc khoai hoặc nấu nồi cơm gạo mới. Khói từ bếp nhà thày tôi màu xanh lam nhạt. Khói từ bếp nhà u màu trắng đục. Hai làn khói lững lờ bay lên, hình như gặp nhau ở giữa lòng sông, quyện vào nhau làm một rồi mới tan vào khoảng trời.
Mối liên lạc duy nhất giữa hai bờ là chiếc thuyền nan nhỏ của tôi. Bắt được con cá chép sông thịt dày, thày lại ới tôi sang: "Mang cho bà ấy nấu canh dưa, bà ấy thích ăn đầu cá". U tôi nhận con cá, ngoài mặt thì nguýt dài: "Vẽ chuyện, cá mú thiếu gì ở chợ". Nhưng đến chiều, bà lại gói vào lá sen một mẻ bánh đúc nóng, kèm chút tương Bần đưa cho tôi: "Cầm sang! Ông ấy răng yếu!".
**
Vào đêm Rằm tháng Tám, trăng tròn vành vạnh. Ánh trăng đổ xuống dòng sông Cầu, biến mặt nước thành một dải lụa bạc lung linh. Bốn chị em chúng tôi cùng các cháu tụ hội đông đủ bên nhà thày để bày cỗ Trung thu. Chúng tôi khi sang nhà thày cũng chẳng rủ u, vì nghĩ có rủ u sẽ lại lắc đầu. Vô tình chúng tôi để u một mình ở bờ bên kia.
Trăng sáng. Tiếng cười nói của con trẻ rộn ràng cả một góc bến sông. Thày tôi chăm chú nhìn ra dòng sông. Ở bờ bên kia, bóng u tôi đang một mình ngóng sang.
Tôi khẽ đến bên thày, phảy nhẹ chiếc quạt nan rồi bảo:
- U con bên kia ngồi một mình, chắc lạnh. Tụi con chèo thuyền sang đón u sang đây trông trăng cùng thày và các cháu, thày nhé?
Con trẻ xung quanh cũng nhao nhao lên:
- Đúng đấy ông ơi, đón bà sang phá cỗ với tụi con đi!
Thày tôi không gạt phắt đi như mọi lần. Đôi mắt già nua, kèm nhèm nhìn đăm đắm vào cái dáng hình hao gầy bên kia sông. Những ký ức từ thuở ông còn là chàng trai vạn chài khỏe mạnh, u là cô gái làng Diềm xinh đẹp có giọng hát thả bùa làm say đắm lòng người, cho đến những trận cãi vã, những cuộc trốn chạy ròng rã suốt nửa thế kỷ, tất cả như một cuốn phim quay chậm hiện về trong tâm trí ông. Cơn giận của cả một đời người, suy cho cùng, cũng chỉ là một cách để họ cột chặt đời mình vào nhau. Khi cái tuổi gần đất xa trời đã đến, tất cả trở nên nhẹ bẫng như khói sóng.
- Ừ! Sang đón u mày. Tao có cấm đoán gì đâu!
Thuyền cập bến. Thấy chúng tôi, u tôi liền đứng bật dậy, vờ trách móc:
- Mấy đứa đêm hôm còn chèo thuyền qua đây làm gì?
- Thày bảo tụi con sang đón u sang phá cỗ Trung thu!
Nghe thấy hai từ "thày bảo", giọt nước mắt hiếm hoi rơi xuống, lấp lánh dưới ánh trăng. Bà lẳng lặng bước xuống thuyền.
Thày tôi xuống tận mép nước tự bao giờ, ông chìa bàn tay gầy guộc, muốn kéo bà lên bờ. U tôi ngập ngừng một chút, rồi đặt bàn tay mình vào lòng bàn tay ông. Đó là cái nắm tay đầu tiên sau hơn năm mươi năm...
Dưới hiên nhà, ánh trăng Rằm vằng vặc. Nhìn thày, u ngồi cạnh nhau, mái đầu bạc trắng hòa vào ánh sáng của trăng, tôi chợt thấy lòng mình dâng lên một cảm xúc nghẹn ngào.
Tôi nhìn ra dòng sông Cầu, nơi dòng nước chảy êm đềm dưới ánh trăng bạc. Thày và u tôi, dành cả đời để vỡ ra thành hai mảnh nhưng dòng chảy của số phận và các con, cháu vẫn cứ kéo họ về lại bên nhau.
Ôi! Những mùa trăng sông Cầu.
Sông Cầu, tháng 6/2026
Nguồn Bắc Ninh: https://baobacninhtv.vn/mua-trang-song-cau-postid449324.bbg











