Mùa xuân trên bến sông xưa

1. Mùa xuân 2026, đứng trên cầu treo Bến Oánh lộng gió, phóng tầm mắt xuống dòng sông Cầu đang lững lờ trôi, lòng tôi chợt dâng lên những xúc cảm lạ lùng.

Dưới ánh đèn LED hắt xuống mặt nước những mảng màu huyền ảo, dòng sông đêm nay như một dải lụa mềm vắt ngang qua thành phố thép. Phía bên kia, Linh Sơn quê tôi - nơi ngày xưa là xóm Bến Đò heo hút giờ đã lên phố, lên phường, đèn điện sáng choang, sầm uất chẳng kém gì trung tâm. Những cây cầu mới như Bến Tượng, Huống Thượng, Mo Linh... đang vươn những cánh cung kiêu hãnh nối liền đôi bờ vui.

Bến sông tại cánh đồng Soi đã chứng kiến tuổi thơ hồn nhiên của những đứa trẻ xóm tôi.

Bến sông tại cánh đồng Soi đã chứng kiến tuổi thơ hồn nhiên của những đứa trẻ xóm tôi.

Cảnh tượng ấy lộng lẫy quá, bình yên quá. Thế nhưng, ký ức trong tôi lại ngược dòng nước, trôi về những năm tháng xa xưa. Khi ấy, sông Cầu với tôi không lãng mạn như bây giờ. Nó là một thế giới vừa huyền bí, vừa đáng sợ, là lằn ranh phân chia giữa bóng tối và ánh sáng, giữa sự tĩnh lặng của xóm nghèo và sự phồn hoa của phố thị.

2. Tôi lớn lên ở xóm Bến Đò, xã Linh Sơn (nay là tổ dân phố Bến Đò, phường Linh Sơn). Cái tên xóm đã gói ghém cả định mệnh gắn liền với sông nước. Tuổi thơ tôi là những ngày nhìn sang bên kia thành phố với nỗi thèm thuồng con trẻ.

Ngày ấy, xóm tôi nghèo. Điện đóm phập phù, những ngọn đèn dầu tù mù hay những bóng điện tròn dây tóc đỏ quạch thường xuyên tắt ngấm mỗi khi quá tải. Mỗi khi bóng tối bao trùm lấy xóm nhỏ, lũ trẻ con chúng tôi chẳng có gì chơi, lại rủ nhau kéo ra phía bờ sông, ngồi trên triền đê, ngóng cổ nhìn sang bờ bên kia.

Bên ấy là một thế giới khác hẳn. Những hàng bóng điện cao áp thẳng tắp chạy dọc theo các con phố, phát ra thứ ánh sáng vàng rực rỡ, lung linh và đầy mê hoặc. Ánh sáng ấy hắt lên bầu trời đêm một vầng hào quang mờ ảo mà ở bên xóm bãi tối tăm này, chúng tôi gọi là "ánh sáng của văn minh".

Với một đứa trẻ chưa từng đi xa quá lũy tre làng, đó là những điều kỳ diệu mà tôi chưa từng chạm tới. Tôi cứ thế ngồi bó gối, nhìn say sưa, để trí tưởng tượng bay xa và tự hỏi: Bao giờ mình mới được đi dạo dưới những ánh đèn ấy? Bao giờ mình mới được chạm tay vào những quầng sáng kia?.

Niềm mong mỏi cháy bỏng ấy chỉ được đền đáp mỗi năm một lần, thường là vào ngày Tết Độc lập 2-9. Đó thực sự là "đại lễ", là ngày hội lớn nhất trong năm của tôi và em gái, thậm chí còn háo hức hơn cả Tết Nguyên đán vì được "xuất ngoại" sang phố.

Tôi nhớ như in hình ảnh bố tôi, người đàn ông gầy gò với đôi bàn tay chai sần, dắt chiếc xe đạp Phượng Hoàng cọc cạch ra sân lau chùi cẩn thận. Vì cái gác-ba-ga sắt nhỏ xíu không đủ chỗ cho hai đứa con ngồi, bố phải tỉ mẩn vót hai thanh tre dài, buộc nối vào gác-ba-ga, rồi lót lên đó một chiếc gối cũ nhồi bông gòn êm ái.

Tôi ngồi trên chiếc "ngai vàng" bằng tre ấy, hai chân đung đưa, lòng hân hoan, kiêu hãnh như một bà hoàng nhỏ đi vi hành. Bố gò lưng đạp xe "vượt sông", đưa chúng tôi sang thành phố để xem xác máy bay Mỹ trưng bày tại bảo tàng và ngắm nhìn phố phường đông đúc. Gió sông lồng lộng thổi bay tóc rối, tiếng xích xe khô dầu lách va vào hộp xích mà lại vui tai đến lạ.

Chuyến đi ấy ngắn ngủi thôi, chỉ vài tiếng đồng hồ, nhưng nó lộng lẫy trong ký ức của chị em tôi, nuôi dưỡng giấc mơ về một ngày mai tươi sáng hơn bên kia bờ con nước. Ánh đèn đường vàng vọt ngày ấy, với tôi, đẹp hơn bất kỳ loại đèn hiện đại nào bây giờ.

3. Nhưng sông Cầu không chỉ có những đêm trăng thanh bình, khi bố kê chiếc tràng kỷ gỗ mun ra sân, rót chén trà xanh, tay cầm chiếc quạt nan phe phẩy cho chúng tôi và ngâm nga thơ Thánh Gióng: "…Suốt 3 năm thật dài đằng đẵng/ Phải đâu rằng 9 tháng như ai/Bà sinh được đứa con trai/ Trán cao, mắt sáng, thân dài, ngực to...".

Giọng bố trầm ấm, vang vọng giữa không gian tĩnh mịch, hòa với tiếng côn trùng rả rích và mùi hương lúa nếp đòng đòng từ cánh đồng Soi bay về. Những đêm ấy bình yên đến lạ.

Thế nhưng, sông Cầu còn có một khuôn mặt khác: Dữ dội, tàn khốc và lạnh lùng. Đó là những mùa lũ.

Người dân xóm Bến Đò chúng tôi sống nương theo con nước, thuộc nằm lòng quy luật của đất trời: "Tháng Ba bà già đi biển/ Tháng Bảy nước nhảy lên bờ". Quy luật ấy không nằm trên giấy, nó khắc sâu vào tâm trí tôi qua những trận đại hồng thủy, qua những lớp phù sa đỏ quạch bám đầy vách nhà sau mỗi mùa nước rút.

Tôi nhớ những ngày tháng Bảy âm lịch, mưa ngâu thối đất thối cát. Trời cứ xầm xì, mọng nước như chực vỡ òa bất cứ lúc nào. Sáng hôm ấy, tôi theo mẹ đi chợ phiên mua đồ chuẩn bị cho ngày Rằm. Lúc đi, nước sông mới chỉ mấp mé bờ bãi, dòng chảy hãy còn lờ đờ. Vậy mà khi mẹ con tôi tất tả quang gánh quay về, thì hỡi ôi, nước thượng nguồn đã đổ về cuồn cuộn, hung hãn tràn qua đê từ lúc nào.

Con đường đất quen thuộc biến mất, chỉ còn lại mênh mông nước đỏ ngầu sôi sục bọt. Mẹ con tôi bì bõm lội, dòng nước lạnh buốt len lỏi, cấu xé vào da thịt. Có những đoạn sâu và xiết, bố phải lội ra đón, cồng kênh tôi trên vai, còn mẹ đội thúng hàng lên đầu, cả nhà chới với, nhỏ bé giữa dòng nước dữ.

Nhưng ám ảnh nhất là những bữa cơm chạy lũ. Khi bố đi "thị sát" về báo nước lên nhanh, cả nhà hối hả và cơm vào miệng. Bữa cơm chỉ có cơm trắng muối vừng, ăn trong nỗi lo âu thắt ruột. Con trâu, đầu cơ nghiệp được ưu tiên sơ tán lên đồi nhà ông Khanh cao nhất xóm.

Bố mẹ và các chị gái của tôi sẽ giong thuyền đi "cướp" hoa màu từ tay thủy thần. Có những bắp ngô còn non, hạt chưa kịp mẩy, nhưng nếu không thu hoạch thì nước qua sẽ hỏng hết.

Tôi và em gái được giao nhiệm vụ ngồi tẽ ngô, nước mắt ngắn dài không phải vì tiếc của, mà vì kiến. Trời ơi, kiến chạy lũ nhiều vô kể! Đủ các loại kiến: kiến đen, kiến lửa, kiến càng… Khi ngô được bẻ về, lũ kiến hoảng loạn trút cơn giận dữ lên người tẽ. Chúng bu đầy chân tay, leo lên mặt, lên cổ, chui vào tóc mà cắn, mà đốt.

Nhưng sau này lớn lên, mỗi khi nghĩ lại cảnh bố mẹ và các chị ngâm mình dưới nước lạnh buốt hàng giờ đồng hồ, giành giật từng bắp ngô với dòng lũ xiết, mặc cho kiến cắn nát da thịt, mặc cho sên bám đầy chân, tôi mới thấy những vết đốt trên người mình ngày ấy chẳng thấm tháp vào đâu.

4. Sông Cầu ngày ấy bên lở bên bồi, thay đổi hình hài sau mỗi mùa lũ và những chuyến đò ngang là sợi dây duy nhất nối nhịp sống đôi bờ. Khi chưa có cầu treo Bến Oánh, người dân đi lại qua chiếc cầu phao tạm bợ làm bằng ống tre ghép trên thùng phi nhựa đường. Lũ về, cầu phao bị tháo dỡ hoặc cuốn trôi, đò trở thành phương tiện độc đạo.

Ký ức kinh hoàng nhất, khắc sâu nhất trong tôi là lần gánh rau cải sang chợ bán. Hôm ấy trời mưa tầm tã, gió rít từng cơn qua khe cửa. Những cây bắp cải đẫy đà bị mưa "nổ" toác, trắng hếu, nếu không bán nhanh sẽ thối rữa, mất trắng công sức mấy tháng trời chăm bẵm.

Mẹ tôi gánh rau đi trước. Tôi, đứa trẻ lũn cũn, khoác mảnh áo mưa tơi tả, cố sức tha lôi gánh rau xuống bến, bước lên chiếc đò chòng chành.

Chiếc đò ngày ấy thô sơ lắm, không máy nổ, không áo phao, tất cả phó mặc cho sức người và những mái chèo tay mỏng manh của người lái đò. Khi đò ra đến giữa dòng, dòng nước bỗng cuộn xiết lên như những con quái vật muốn nuốt chửng con đò nhỏ. Chiếc đò quay vòng vòng như chiếc lá khô, chấp chới, bắt đầu trôi dạt vô định. Nỗi sợ hãi điều xấu nhất hiện rõ trên khuôn mặt trắng bệch của từng người đi chợ.

"Giữa lúc nguy nan ấy, chẳng ai bảo ai, bản năng sống trong mỗi người trỗi dậy. Những người đàn bà hằng ngày vốn chỉ quen quang gánh chợ búa, giờ đây bỗng nhanh thoăn thoắt. Họ rút phắt những chiếc đòn gánh tre thả xuống nước làm mái chèo.

Hai... ba…! Hai... ba...!

Tiếng hô lạc đi giữa tiếng mưa gào nhưng nhịp chèo thì đều tăm tắp. Hàng chục chiếc đòn gánh tre cùng quạt nước rào rào. Những cánh tay sạm nắng gồng lên, gân guốc nổi rõ. Mặt ai nấy đanh lại, mắt nhìn chằm chằm vào dòng nước. Con đò đang quay cuồng bỗng khựng lại, rồi từ từ lấy được thăng bằng. Nó nhích từng sải, từng sải một, nặng nhọc rẽ dòng nước xoáy đưa mọi người thoát khỏi vùng nguy hiểm.

Thoát chết trở về, nhưng nỗi sợ ấy vẫn găm vào tâm trí tôi như một cái dằm không thể nhổ. Để rồi những ngày mưa gió sau đó, khi mẹ đi chợ chưa về, tôi lại ra hiên nhà, leo lên cây cột gỗ, vắt vẻo nhìn ra con đường đất đỏ dẫn ra bến sông mà tìm dáng mẹ.

Có những hôm ế hàng, mẹ về muộn. Tôi chạy ra sát bến đò, ngồi thu lu chờ đợi. Nhìn sang bờ bên kia, thấy bóng dáng nhỏ bé, quen thuộc của mẹ đang đứng đợi đò, rồi lại nhìn dòng nước cuồn cuộn chảy, tim tôi thắt lại. Chỉ khi con đò cập bến, mẹ bước lên bờ với chiếc nón mê ướt sũng, quần xắn móng lợn và đôi quang gánh nhẹ tênh, tôi mới vỡ òa sung sướng, chạy ùa ra ôm lấy mẹ. Tôi biết ơn con đò, biết ơn người lái đò thầm lặng, và biết ơn cả dòng sông đã bao dung, đưa mẹ về bình an với chị em tôi.

5. Hơn 30 năm đã trôi qua, sông Cầu bây giờ vẫn chảy, nhưng phận sông và phận người đã khác.

Xóm Bến Đò giờ đã lên phố, nhà cao tầng san sát. Cánh đồng Soi bãi bồi năm nào giờ xanh mướt những mô hình nông nghiệp mới và đặc biệt, những cây cầu hiện đại đã nối liền đôi bờ, xóa nhòa khoảng cách giữa "bên này" và "bên kia". Giấc mơ về ánh đèn điện lung linh năm nào của cô bé ngây thơ giờ đã trở thành hiện thực ngay trước ngõ nhà. Lũ trẻ xóm tôi bây giờ cũng không còn phải mơ giấc mơ "được nhìn thấy đèn điện" như chúng tôi khi xưa nữa. Chúng sinh ra trong ánh sáng, lớn lên cùng công nghệ số và mơ những giấc mơ vươn ra biển lớn.

Mùa xuân 2026…

Đứng trên cầu, nhìn dòng xe cộ nườm nượp nối đuôi nhau, ánh đèn pha quét loang loáng mặt đường, tôi chợt nghĩ đến hình ảnh con ngựa của năm nay. Dường như vùng đất này cũng đang "phi" nhanh như thế. Không còn là mảnh đất trầm mặc ngày nào, Thái Nguyên bây giờ náo nhiệt và đầy sức sống. Những tòa nhà mới mọc lên, những khu phố sáng trưng đèn điện suốt đêm thâu.

Cảnh vật thanh bình của tổ dân phố Bến Đò. Ảnh: Hoàng Hùng

Cảnh vật thanh bình của tổ dân phố Bến Đò. Ảnh: Hoàng Hùng

Đứng tựa lan can cầu, nhìn xuống mặt nước êm đềm, tôi như thấy lại bóng dáng lấm lem của mình và bạn bè năm xưa. Dòng sông ấy đã cho chúng tôi những bãi ngô xanh mướt, nhưng cũng dạy cho chúng tôi những bài học không có trong sách vở. Đó là bài học về sự chịu đựng và vươn lên. Rằng sau những ngày lũ dữ cuồng nộ, dòng sông lại hiền hòa, phù sa lại lắng đọng để cây cối tốt tươi hơn. Con người ở đây cũng vậy, đi qua gian khó càng thêm trân quý những ngày bình yên.

Sông Cầu vẫn ở đó, lặng lẽ chứng kiến tất cả. Nó đã thấy những mái nhà tranh liêu xiêu trong gió bão, giờ lại thấy những cao ốc rực rỡ ánh đèn. Nó đã nghe tiếng hét thất thanh ngày nước tràn đê, giờ lại nghe tiếng nhạc xuân rộn rã từ Quảng trường Võ Nguyên Giáp vọng lại. Dù phố xá có đổi thay thế nào, dòng sông vẫn cứ bao dung, mềm mại, như một chốn neo đậu bình an cho tâm hồn mỗi người con xa quê trở về.

Con đò năm xưa chắc đã mục nát ở bến bãi nào rồi, nhường chỗ cho những cây cầu hiện đại, những chuyến xe bon bon. Nhưng với riêng tôi, giữa tiếng còi xe huyên náo của phố thị hôm nay, thi thoảng trong tâm trí vẫn vọng về tiếng bì bõm lội nước, tiếng đòn gánh quạt nước rào rào năm ấy, để nhắc tôi nhớ mình đã lớn lên từ đâu.

Dòng sông vẫn chảy về xuôi, mang theo phù sa và cả những giấc mơ của một mùa xuân mới.

Kim Ngân

Nguồn Thái Nguyên: https://baothainguyen.vn/xa-hoi/202603/mua-xuan-tren-ben-song-xua-b0523ad/