Mưa xuân trong trường mỹ cảm thơ Việt
Hình tượng mưa xuân trong trường mỹ cảm mùa xuân của thơ Việt Nam là một trong những biểu tượng giàu sức gợi nhất, không chỉ vì vẻ đẹp thiên nhiên mà còn vì chính nghệ thuật thi ca Việt đã gửi vào đó những triết lý thẩm mỹ, tâm hồn văn hóa và cảm thức thời gian độc đáo.
Ở đây, nghệ thuật thơ ca cho thấy cảnh sắc và tình cảm là mối tương giao khi thiên nhiên không đứng ngoài con người mà trở thành tấm gương phản chiếu cảm xúc, là đường dây kết nối vô hình giữa tâm hồn và thời gian.
Mưa xuân trong cách kể chuyện tình của nhà thơ Nguyễn Bính

Nhà thơ Nguyễn Bính.
Trong thơ Việt, bài thơ "Mưa xuân" của nhà thơ Nguyễn Bính đã đọng lại qua thời gian trong trái tim nhiều người yêu thơ:
"Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay/ Lòng thấy giăng tơ một mối tình/ Em ngừng thoi lại giữa tay xinh/ Hình như hai má em bừng đỏ/ Có lẽ là em nghĩ đến anh…/ Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay/ Hoa xoan đã nát dưới chân giày/ Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ/ Mẹ bảo mùa xuân đã cạn ngày/ Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày!/ Bao giờ em mới gặp anh đây?/ Bao giờ Hội Đặng đi ngang ngõ/ Để mẹ em rằng hát tối nay?".
Trong thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Bính là tiếng thơ của hồn quê, của những câu chuyện tình mộc mạc mà xót xa. "Mưa xuân" (1936) là một trong những thi phẩm tiêu biểu cho bút pháp "tự sự trữ tình" độc đáo của ông: kể một cuộc tình lỡ làng qua giọng điệu mộc mạc, duyên dáng, được bao bọc trong khung cảnh mưa xuân nhẹ như hơi thở của làng quê Bắc Bộ. Câu chuyện tình bắt đầu đúng lúc "mưa xuân phơi phới bay", hoa xoan tím rụng đầy lối ngõ là một khung cảnh gợi nên sắc thái bồng bềnh của tình yêu mới chớm.
Thế nhưng câu chuyện chuyển hướng ngay giữa đêm hội. Cô gái "mải tìm anh chả thiết xem", còn chàng trai - người đã từng "năm tao bảy tuyết hò hẹn" lại không đến. Cả mùa xuân bỗng "bẽ bàng". Mưa lúc này không còn "phơi phới" mà trở thành mưa lạnh, nặng hạt, rơi trên bước chân lầm lũi của cô gái trên dải đê dài và buồn. Nguyễn Bính kể rất nhẹ, nhưng nỗi tủi hờn hiện lên thấm thía: tình yêu quê mùa, chân thật đến mức dễ đau.
Biểu tượng 'ông đồ' trong mưa bụi của nhà thơ Vũ Đình Liên

Nhà thơ Vũ Đình Liên.
Biểu tượng mưa xuân trong thơ Việt không chỉ là hình ảnh thời tiết mà là một trường mỹ cảm đặc sắc cho thấy bản chất của nghệ thuật thi ca Việt với chất thơ tinh tế, kín đáo, giàu tính trữ tình, thấm đượm văn hóa, chan chứa nỗi lòng con người trước thời gian và luôn tìm cách siêu thăng hóa hiện thực để biến nó thành biểu tượng của cái đẹp sâu xa.
Trong phong trào Thơ mới, Vũ Đình Liên được xem là một trong những thi sĩ giàu hoài niệm nhất. "Ông đồ" (1936) là thi phẩm để đời của ông, không chỉ vì nhịp điệu trầm buồn mà còn bởi bức tranh mùa xuân đầy mưa bụi, hoa đào, giấy đỏ… được dệt vào nỗi xót thương trước sự tàn phai của một lớp người, một lớp trầm tích văn hóa:
Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực Tàu, giấy đỏ/ Bên phố đông người qua/ Bao nhiêu người thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài:/ "Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa, rồng bay"/ Nhưng mỗi năm mỗi vắng/ Người thuê viết nay đâu?/ Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng trong nghiên sầu/ Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai hay/ Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay/ Năm nay đào lại nở/ Không thấy ông đồ xưa/ Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?
Trong bài thơ trên, lá vàng, biểu tượng tàn úa của thời gian, còn mưa bụi của mùa xuân, phảng phất nỗi buồn mỏng manh như khói. Hai hình ảnh ấy lẫn vào nhau như sự hòa trộn giữa thời gian và kiếp người. Lá vàng rơi xuống tấm giấy đỏ, tấm giấy từng rực rỡ niềm tin chữ nghĩa, giống như sự rơi rụng của những giá trị xưa cũ. Mưa bụi bay ngoài trời càng làm khung cảnh mơ hồ, bảng lảng, như lớp sương buồn phủ lên phận người nghệ sĩ bị cuộc đổi thay đẩy ra bên lề.
Khổ cuối là nốt nhạc xót xa nhất: hoa đào lại nở, xuân lại về, nhưng ông đồ thì không còn. Câu hỏi "Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đâu bây giờ?" không chỉ khóc cho một ông đồ, mà cho cả một thời văn hóa đang dần mất, cho nỗi cô đơn lớn của nhân thế trước sự vô tình của năm tháng. "Ông đồ" vì thế là một bức tranh xuân đẹp mà buồn, nơi mưa bụi và lá vàng không chỉ là cảnh sắc mà còn là biểu tượng cho sự phai tàn. Vũ Đình Liên đã khắc họa nỗi buồn của thời gian trôi qua kiếp người bằng giọng thơ lặng lẽ, bâng khuâng, để từ đó gợi trong lòng người đọc một sự ngậm ngùi cho cái đẹp mong manh của đời và của văn hóa xưa.
Mưa xuân đánh thức chất trữ tình trong mỹ cảm phương Đông

Nhà thơ Anh Thơ.
Mưa xuân kiến tạo nên chất trữ tình dân tộc với sự hòa quyện giữa con người và làng quê. Trong nhiều bài thơ, mưa xuân làm mềm ngôi làng cổ, phủ mùi đất mới, dệt lên không gian văn hóa Việt. Mưa xuân không chỉ làm đẹp cảnh mà còn đánh thức bản sắc cảm xúc của tình quê hiền hòa, của nỗi nhớ bờ tre, lòng hướng về nguồn cội. Một dân tộc yêu thiên nhiên, sống bằng nhịp mùa màng, tất yếu sẽ dùng mưa xuân như một biểu tượng của cội rễ và tâm hồn.
Trong Thơ mới tiền chiến 1930-1945, giữa những tiếng thơ nồng nàn cảm xúc chủ quan, nhà thơ Anh Thơ xuất hiện như một nét riêng khi thơ bà thiên về miêu tả, dựng cảnh, tạo nên những bức tranh thôn quê trong trẻo, yên bình.
"Chiều xuân" là thi phẩm tiêu biểu, để lại ấn tượng bởi vẻ đẹp thanh nhẹ của một buổi chiều mưa bụi, thấm đẫm chất trữ tình và tình yêu đồng quê: "Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng/ Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi/ Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng/ Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời/ Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ/ Đàn sáo đen sà xuống mổ vu vơ/ Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió/ Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa/ Trong đồng lúa xanh rờn và ướt lặng/ Lũ cò con chốc chốc vụt bay ra/ Làm giật mình một cô nàng yếm thắm/ Cúi cuốc cào cỏ ruộng sắp ra hoa".
Đáng chú ý, mưa xuân còn cho thấy khả năng siêu thăng hoa của thi ca Việt Nam. Trong nhiều tác phẩm hiện đại, mưa xuân vượt khỏi cảnh thật để trở thành biểu tượng siêu thực và nghệ thuật thơ ca Việt vì thế không chỉ dừng ở tả cảnh mà biến mưa thành ý niệm, thành điểm tựa để suy tư về cái đẹp, về thời gian, sự tồn tại và nỗi buồn nhân thế.
Đó là chiều sâu nghệ thuật mà trường mỹ cảm mùa xuân đã nuôi dưỡng trong thi ca nhiều thế hệ. Mưa xuân vì thế vẫn là một trong những biểu tượng giàu sức sống nhất của thơ Việt, vừa dân tộc, vừa hiện đại, vừa mong manh, vừa vĩnh cửu trong tâm hồn người đọc.
Bài thơ “Mưa tháng giêng” của Nguyễn Việt Chiến là một bức tranh Hà Nội trong sương, trong ký ức, trong cái mỏng manh của thời gian vừa trôi vừa trầm ngâm. Bài thơ sử dụng cấu trúc lặp tự do với nhịp nhẹ, thưa, gợi cảm giác từng lớp mưa bụi phủ lên cả không gian lẫn tâm tưởng. Cảm xúc và cảnh vật hòa tan vào nhau, tạo nên chất thơ rất riêng của Nguyễn Việt Chiến:
"Tháng giêng mưa ngoài phố/ Mưa như là sương thôi/ Những bóng cây dáng khói/ Như mộng du bên trời/ Tháng giêng ngày mỏng quá/ Nỗi buồn nghe cũ rồi/ Mà bên kia tờ lịch/ Nỗi niềm mưa xót rơi/ Tháng giêng mưa trên tóc/ Những người đi lễ chùa/ Theo giọt mưa cầu phúc/ Tiếng chuông từ bi mơ/ Tháng giêng mưa dưới bến/ Mỏng mai cô lái đò/ Mắt mưa em lúng liếng/ Trói tôi bằng vu vơ/ Tháng giêng mưa như cỏ/ Non xanh đến tận trời/ Trước vô cùng năm tháng/ Thơ mình - sương khói thôi
Ngay khổ thơ đầu đã mở ra nhịp mưa như sương, mưa là “dáng khói”, là “mộng du”. Phố cổ Hà Nội qua hình tượng ấy trở nên lãng đãng như một miền ký ức: Khi thời gian được nhắc đến như một đại lượng vô biên, thơ ca vốn là phương tiện nắm giữ khoảnh khắc lại chỉ còn “sương khói thôi”. Đó là lời tự sự buồn nhưng đẹp vì thơ vẫn là ánh sáng nhỏ, dù đứng trước sự mênh mông tàn nhẫn của thời gian.
"Mưa tháng giêng" vì vậy không chỉ là thơ về mưa, mà là thơ về ký ức,thời gian, vẻ đẹp mong manh còn sót lại, và nỗi ngậm ngùi của thi sĩ trước sự trôi đi của mọi thứ. Trong cơn mưa bụi của tháng giêng Hà Nội, ta thấy một hồn thơ đứng giữa hiện thực và siêu thực, nâng những khoảnh khắc thành nỗi hoài cảm thấm sâu, như chính màu mưa đang tan vào phố cổ nghìn năm.
Nguồn VNCA: https://vnca.cand.com.vn/tu-lieu-van-hoa/mua-xuan-trong-truong-my-cam-tho-viet-i796661/











