Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD: Thước đo khả năng chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng mới

Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ... thành năng lực cạnh tranh.

Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ thành năng lực cạnh tranh. Ảnh: Chinhphu.vn

Mục tiêu xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD không chỉ đòi hỏi tăng kim ngạch, mà còn kiểm chứng khả năng chuyển các Nghị quyết về thể chế, công nghệ thành năng lực cạnh tranh. Ảnh: Chinhphu.vn

Trong nhiều năm, nông nghiệp giữ vai trò “trụ đỡ” của nền kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an ninh lương thực, tạo sinh kế và đóng góp quan trọng vào cán cân thương mại.

Hiện khu vực này đang được kỳ vọng không chỉ giữ ổn định kinh tế - xã hội, mà còn trở thành một động lực tăng trưởng có giá trị gia tăng cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Vì vậy, mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ sẽ là thước đo khả năng chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên, lao động và quy mô sang mô hình dựa trên năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.

TỪ MỤC TIÊU NGÀNH ĐẾN THƯỚC ĐO CỦA NỀN KINH TẾ

Nếu tăng trưởng trước đây chủ yếu dựa vào mở rộng diện tích, gia tăng sản lượng và khai thác các lợi thế sẵn có, mô hình tăng trưởng mới đòi hỏi giá trị phải được tạo ra từ tri thức, công nghệ, tổ chức sản xuất và năng lực quản trị. Những vấn đề được phân tích tại Tọa đàm: Làm gì để xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD do Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ tổ chức ngày 9/7/2026 cho thấy nông nghiệp Việt Nam khó tạo ra bước tăng trưởng mới nếu cứ vận hành theo phương thức cũ.

Do vậy, các giải pháp do các chuyên gia đề xuất tại tọa đàm, dù tiếp cận từ góc độ nào cũng đều hướng tới yêu cầu chuyển chủ trương đổi mới thành năng lực cạnh tranh cụ thể của ngành nông nghiệp.

Mục tiêu 100 tỷ USD không chỉ kiểm chứng năng lực của riêng ngành nông nghiệp. Nó còn phản ánh khả năng phối hợp giữa các cơ quan quản lý, mức độ tham gia của doanh nghiệp, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện của toàn bộ nền kinh tế. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN.

Mục tiêu 100 tỷ USD không chỉ kiểm chứng năng lực của riêng ngành nông nghiệp. Nó còn phản ánh khả năng phối hợp giữa các cơ quan quản lý, mức độ tham gia của doanh nghiệp, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện của toàn bộ nền kinh tế. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN.

Theo cách tiếp cận đó, thành công của ngành nông nghiệp không chỉ được đo bằng số lượng sản phẩm làm ra hay tốc độ tăng kim ngạch, mà còn bằng khả năng nâng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm, xây dựng thương hiệu, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và tham gia sâu hơn vào các phân khúc có giá trị cao.

Đây là sự chuyển dịch từ lợi thế tự nhiên sang lợi thế cạnh tranh được kiến tạo, một yêu cầu then chốt của mô hình tăng trưởng mới.

Yêu cầu chuyển từ “sản xuất nông nghiệp” sang “kinh tế nông nghiệp” được nhiều ý kiến tại tọa đàm nhấn mạnh. Sự chuyển đổi này đồng nghĩa với việc không chỉ quan tâm đến khâu sản xuất, mà phải tổ chức lại toàn bộ chuỗi từ đầu vào, vùng nguyên liệu, chế biến, logistics đến phân phối và thị trường.

Đây cũng là điểm khác biệt căn bản giữa tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng dựa trên năng suất. Nếu chỉ gia tăng sản lượng, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục chịu sức ép về tài nguyên, môi trường và chi phí. Ngược lại, nếu nâng được giá trị trên cùng một đơn vị sản phẩm, Việt Nam có thể gia tăng kim ngạch mà không phải phụ thuộc hoàn toàn vào việc mở rộng quy mô sản xuất, đồng thời giảm rủi ro từ biến đổi khí hậu và biến động thị trường.

Với yêu cầu tăng trưởng cao trong thời gian ngắn, các ngành hàng cũng không thể tiếp tục vận hành theo công thức hiện tại. Một mô hình mới phải được hình thành trên cơ sở đánh giá đầy đủ dư địa thị trường, năng lực nguyên liệu, lao động, tín dụng và khả năng tổ chức thực thi.

Điều này cho thấy mục tiêu 100 tỷ USD không chỉ kiểm chứng năng lực của riêng ngành nông nghiệp. Nó còn phản ánh khả năng phối hợp giữa các cơ quan quản lý, mức độ tham gia của doanh nghiệp, hiệu quả phân bổ nguồn lực và năng lực tổ chức thực hiện của toàn bộ nền kinh tế.

Khi một mục tiêu tăng trưởng đòi hỏi sự tham gia đồng thời của nông nghiệp, công thương, hải quan, tài chính, ngân hàng, khoa học - công nghệ và chính quyền địa phương, kết quả cuối cùng không thể chỉ phụ thuộc vào người nông dân hay từng doanh nghiệp riêng lẻ.

Mục tiêu 100 tỷ USD cũng đặt ra yêu cầu thay đổi phương thức điều hành: từ quản lý theo từng lĩnh vực riêng biệt sang quản trị theo chuỗi giá trị; từ xử lý từng thủ tục đơn lẻ sang tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn xuyên ngành; từ ban hành chính sách sang đo lường kết quả thực thi một cách nghiêm ngặt và trách nhiệm rõ ràng.

CHUYỂN CHỦ TRƯƠNG THÀNH SỨC CẠNH TRANH

Để mục tiêu 100 tỷ USD trở thành hiện thực, các Nghị quyết về thể chế, khoa học - công nghệ, phát triển doanh nghiệp… phải được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh cụ thể, có thể nhận diện và đo lường được, chuyển mạnh tư duy từ "hoàn thành đầu việc" sang tư duy "tạo ra sản phẩm đầu ra", đó cũng là tinh thần chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 1 năm 6 tháng triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Trước hết, cải cách thể chế phải thể hiện ở việc giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Dù thủ tục hải quan đối với phần lớn nông sản xuất khẩu đã được xử lý nhanh, toàn bộ quá trình vẫn phụ thuộc vào kiểm dịch, kiểm nghiệm, cấp mã số vùng trồng, chứng nhận xuất xứ và sự liên thông dữ liệu giữa các cơ quan.

Thị trường hiện nay không chỉ đòi hỏi sản phẩm đạt chất lượng, mà còn yêu cầu chứng minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, chăm sóc, chế biến và vận chuyển. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Thị trường hiện nay không chỉ đòi hỏi sản phẩm đạt chất lượng, mà còn yêu cầu chứng minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, chăm sóc, chế biến và vận chuyển. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN

Cải cách không thể chỉ dừng ở khâu cuối cùng. Toàn bộ quy trình cần được rà soát, chuẩn hóa, số hóa và chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm trên cơ sở quản lý rủi ro.

Thể chế chỉ thực sự tạo động lực tăng trưởng khi hàng hóa được xử lý nhanh hơn, chi phí thấp hơn, dữ liệu được chia sẻ và kết quả kiểm tra được công nhận lẫn nhau giữa Việt Nam với thị trường nhập khẩu.

Cùng với thể chế, khoa học - công nghệ phải trở thành nền tảng vận hành của chuỗi sản xuất. Thị trường hiện nay không chỉ đòi hỏi sản phẩm đạt chất lượng, mà còn yêu cầu chứng minh nguồn gốc, quy trình sản xuất, chăm sóc, chế biến và vận chuyển.

Dữ liệu vì thế phải được số hóa từ vùng trồng, cơ sở chăn nuôi, nhật ký sản xuất, cơ sở đóng gói, phòng kiểm nghiệm đến khâu vận chuyển và thông quan, sau đó liên kết thành một chuỗi thống nhất.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa và liên thông, truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn tạo dựng niềm tin, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường và hỗ trợ công tác dự báo, cảnh báo, điều hành sản xuất một cách khoa học.

Doanh nghiệp cũng phải vượt ra khỏi vai trò thu mua và xuất khẩu để trở thành đầu mối kết nối vùng nguyên liệu, hợp tác xã, cơ sở chế biến, logistics và hệ thống phân phối. K

hi có đủ năng lực dẫn dắt, doanh nghiệp mới có thể gắn sản xuất với tiêu chuẩn thị trường, đơn hàng và chiến lược thương hiệu dài hạn. Liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất đồng thời phải bảo đảm chia sẻ lợi ích, trách nhiệm và rủi ro.

Nếu chuỗi liên kết thiếu ổn định, vùng nguyên liệu chưa được tổ chức theo tiêu chuẩn và đầu ra không được bảo đảm, việc nâng chất lượng và giá trị gia tăng sẽ khó bền vững.

Hội nhập quốc tế cũng phải được chuyển hóa thành khả năng giữ thị trường và tham gia các phân khúc giá trị cao hơn. Việc ký kết hiệp định thương mại hay mở cửa thị trường mới chỉ tạo ra cơ hội ban đầu. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng chuyển từ sản phẩm sang chuỗi giá trị, lợi thế sẽ thuộc về những chuỗi minh bạch, hiệu quả, số hóa tốt và thích ứng nhanh với yêu cầu thị trường.

Vì vậy, mục tiêu 100 tỷ USD không chỉ là một mốc kim ngạch, mà còn tạo sức ép đổi mới đối với thể chế, doanh nghiệp, công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất.

Khi thể chế được đo bằng hiệu quả thực thi, khoa học - công nghệ trở thành nền tảng vận hành, doanh nghiệp đủ sức dẫn dắt chuỗi và người sản xuất tham gia thị trường bằng tiêu chuẩn và dữ liệu, mục tiêu 100 tỷ USD sẽ phản ánh cả sự gia tăng quy mô xuất khẩu lẫn quá trình chuyển từ lợi thế sẵn có sang lợi thế được kiến tạo, từ tăng trưởng dựa vào sản lượng sang tăng trưởng dựa trên giá trị.

Lý Hà

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/muc-tieu-xuat-khau-nong-lam-thuy-san-dat-100-ty-usd-thuoc-do-kha-nang-chuyen-doi-sang-mo-hinh-tang-truong-moi.htm