Muốn phát triển đô thị thông minh, phải giải bài toán dữ liệu
Phát triển đô thị thông minh không chỉ đòi hỏi đầu tư công nghệ mà còn cần chuẩn hóa, kết nối và khai thác dữ liệu để giải quyết những vấn đề thực tế trong quản lý đô thị.
Ngày 6/11, trong khuôn khổ Diễn đàn Phát triển bền vững đô thị Việt Nam 2026 tại Hà Nội, Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) phối hợp với Tổng hội Xây dựng Việt Nam và UN-Habitat Việt Nam tổ chức hội thảo chuyên đề "Quản trị đô thị thông minh dựa trên dữ liệu".
Hội thảo tập trung trao đổi về thực trạng phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam, những khó khăn trong xây dựng, kết nối dữ liệu và giải pháp ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành đô thị.

Ông Lê Hoàng Trung, Phó cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) phát biểu khai mạc hội thảo. Ảnh: Trần Trọng/Mekong ASEAN.
Dữ liệu đô thị còn phân tán, thiếu đồng bộ
Phát biểu khai mạc hội thảo, ông Lê Hoàng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) cho biết thời gian qua, nhiều địa phương đã đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển hạ tầng số, trung tâm điều hành thông minh (IOC) và các ứng dụng quản lý giao thông, môi trường, dịch vụ công.
Tuy nhiên, dữ liệu đô thị hiện còn phân tán ở nhiều cơ quan, đơn vị, chưa được chuẩn hóa đồng bộ, gây khó khăn trong kết nối, chia sẻ và khai thác. Một số hệ thống công nghệ được đầu tư riêng lẻ theo từng lĩnh vực, dự án, thiếu tính tích hợp và chưa hình thành được nền tảng dữ liệu chung phục vụ quản trị đô thị.
Bên cạnh đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), phân tích dữ liệu lớn và bản sao số đô thị còn gặp khó khăn về dữ liệu đầu vào, hạ tầng kỹ thuật, nguồn nhân lực và khả năng vận hành.
Theo ông Lê Hoàng Trung, thách thức đối với phát triển đô thị thông minh không chỉ nằm ở công nghệ mà còn liên quan đến thể chế, tổ chức quản trị và năng lực triển khai.
Do đó, cần xác định rõ những vấn đề đô thị phải giải quyết, loại dữ liệu cần sử dụng, trách nhiệm vận hành và cách thức đánh giá hiệu quả, thay vì chỉ tập trung lựa chọn công nghệ để đầu tư.

Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ). Ảnh: Trần Trọng/Mekong ASEAN.
Tại hội thảo, ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), cho biết Khung kiến trúc ICT đô thị thông minh phiên bản 2.0 được xây dựng nhằm hỗ trợ các địa phương tổ chức hệ thống công nghệ, dữ liệu và ứng dụng phục vụ quản trị.
Theo ông, khung kiến trúc không yêu cầu địa phương đầu tư đồng loạt mọi thành phần công nghệ mà cần đánh giá những hệ thống hiện có, xác định khả năng kế thừa, dùng chung hoặc thuê dịch vụ trước khi quyết định đầu tư mới.
Đồng thời, các địa phương phải lựa chọn bài toán quản trị cần giải quyết trước khi xác định dữ liệu, trung tâm điều hành hay nền tảng công nghệ cần xây dựng.
Ông Hạnh cho rằng mục tiêu của chuyển đổi số không dừng lại ở việc thu thập, tạo lập dữ liệu mà phải đưa dữ liệu vào quy trình quản lý, tạo ra giá trị thông qua hoạt động phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.
Trong đó, trung tâm điều hành thông minh cần chuyển từ chức năng chủ yếu hiển thị thông tin sang hỗ trợ cơ quan quản lý xử lý các vấn đề thực tế.
Cần cơ chế rõ ràng để khai thác và chia sẻ dữ liệu
Trao đổi với Mekong ASEAN tại hội thảo, ông Võ Thanh Tùng, Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Chủ tịch Hội Tin học Xây dựng Việt Nam, xác định khó khăn lớn hiện nay trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý đô thị là tích hợp dữ liệu từ các nguồn khác nhau thành một hệ thống thống nhất, có khả năng kết nối và khai thác.
Theo ông Tùng, trong lĩnh vực xây dựng, dữ liệu được hình thành từ nhiều công cụ như mô hình thông tin công trình (BIM), hệ thống thông tin địa lý (GIS) và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.
Mặc dù đã có những công cụ phục vụ việc tạo lập dữ liệu, quá trình tích hợp thông tin từ các cơ quan quản lý ở nhiều cấp vẫn gặp khó khăn do chưa có chuẩn dữ liệu thống nhất.
Bên cạnh đó, cơ chế cập nhật, khai thác và chia sẻ dữ liệu cũng chưa được quy định đầy đủ, rõ ràng. Dữ liệu được tạo lập từ nhiều nguồn nhưng có thể không đồng bộ, trong khi việc xác định quyền truy cập, sử dụng và chia sẻ thông tin giữa các đơn vị còn vướng mắc.
Theo đại diện Tổng hội Xây dựng Việt Nam, vấn đề không chỉ là xây dựng được cơ sở dữ liệu mà còn phải bảo đảm dữ liệu được khai thác thường xuyên, phục vụ những yêu cầu cụ thể của công tác quản lý.
Nếu dữ liệu chỉ được tạo lập, cập nhật mà không đưa vào sử dụng thì sẽ không phát huy được giá trị. Vì vậy, dữ liệu cần bảo đảm các yêu cầu đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và có khả năng chia sẻ.
Đối với các trung tâm điều hành thông minh, ông Tùng cho rằng việc đầu tư xây dựng IOC trong thời gian qua là cần thiết, song hiệu quả khai thác dữ liệu để hỗ trợ ra quyết định vẫn còn hạn chế.
Theo ông, các trung tâm này cần được cải tiến theo hướng tích hợp dữ liệu từ nhiều ngành, lĩnh vực, phục vụ trực tiếp công tác quản trị, điều hành hằng ngày thay vì chủ yếu tập hợp và hiển thị thông tin.

“Việc xây dựng các trung tâm điều hành thông minh (IOC) là cần thiết, nhưng phải biến những trung tâm này thành nơi tích hợp và khai thác dữ liệu phục vụ công tác quản trị hằng ngày, hỗ trợ cơ quan quản lý đưa ra quyết định kịp thời. Không thể chỉ dừng lại ở việc hiển thị thông tin trên màn hình mà chưa khai thác được dữ liệu để phục vụ hoạt động điều hành".
Ông Võ Thanh Tùng – Ủy viên Đoàn Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam, Chủ tịch Hội Tin học Xây dựng Việt Nam.
Về khả năng ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong ngành xây dựng, ông Tùng cho biết các công nghệ này có thể hỗ trợ xử lý, phân tích khối lượng dữ liệu lớn, giúp cơ quan quản lý tổng hợp thông tin và đưa ra quyết định nhanh hơn.
Trong công tác quy hoạch, AI có thể hỗ trợ phân tích dữ liệu về mật độ dân số, xu hướng phát triển và những thay đổi của môi trường để xây dựng phương án phù hợp.
Đối với giai đoạn thi công, công nghệ này có thể giúp nhận diện những bất cập về tiến độ, cung ứng vật tư và hoạt động phối hợp giữa các đơn vị tham gia dự án. Khi công trình đi vào vận hành, AI có thể hỗ trợ phân tích, dự báo các tình huống phát sinh và nhu cầu bảo hành, bảo trì.
Theo ông Tùng, AI có khả năng hỗ trợ công tác quản lý xuyên suốt từ quy hoạch, đầu tư, thi công đến vận hành công trình. Tuy nhiên, hiệu quả phụ thuộc vào chất lượng dữ liệu đầu vào và năng lực khai thác công nghệ của từng đơn vị, không phải mọi vấn đề đều có thể giải quyết chỉ bằng việc ứng dụng AI.
Lựa chọn bài toán quản trị trước khi đầu tư công nghệ
Từ những khó khăn được nhận diện, các diễn giả tại hội thảo đề xuất chuyển cách tiếp cận phát triển đô thị thông minh từ lựa chọn công nghệ sang xác định vấn đề thực tế cần giải quyết.
Theo ông Hoàng Hữu Hạnh, việc ứng dụng dữ liệu và AI cần được tổ chức thành một quy trình, từ tạo lập, quản trị dữ liệu đến kết nối, chia sẻ, phân tích, dự báo và hỗ trợ ra quyết định.
Dẫn ví dụ về bài toán ngập lụt đô thị, ông cho biết cơ quan quản lý cần kết hợp các nguồn dữ liệu về lượng mưa, triều cường, mực nước, hệ thống thoát nước và hạ tầng kỹ thuật để xây dựng phương án ứng phó.
Trên cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa, bản sao số đô thị có thể hỗ trợ mô phỏng các kịch bản ngập lụt, đánh giá khả năng thoát nước và phục vụ việc lựa chọn giải pháp xử lý.
Tuy nhiên, ông Hạnh lưu ý các công cụ phân tích dữ liệu không thể thay thế hoàn toàn giải pháp công trình. Hiệu quả xử lý ngập vẫn phụ thuộc vào năng lực thực tế của hệ thống thoát nước, ao hồ và hạ tầng liên quan.
Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Quan hệ Chính phủ Huawei Technologies Việt Nam, hiệu quả phát triển đô thị thông minh cần được đánh giá qua chất lượng dịch vụ và khả năng giải quyết những vấn đề thực tế, thay vì chỉ dựa vào mức độ đầu tư công nghệ.
Ông dẫn số liệu cho thấy khoảng 85% hộ gia đình Việt Nam sử dụng Internet cáp quang và mạng 5G đã phủ gần 92% dân số. Tuy nhiên, Hà Nội chỉ xếp thứ 97 trong số 148 thành phố theo Chỉ số Thành phố thông minh IMD năm 2026.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Quan hệ Chính phủ Huawei Technologies Việt Nam trình bày tại hội thảo. Ảnh: Trần Trọng/Mekong ASEAN.
Sự chênh lệch này cho thấy hạ tầng kết nối phát triển chưa đồng nghĩa với việc người dân được thụ hưởng các dịch vụ đô thị tương xứng, đặc biệt trong những vấn đề như ùn tắc giao thông, ngập úng và giải quyết thủ tục hành chính.
Từ góc độ hạ tầng, đại diện Huawei đề xuất tích hợp hạ tầng số và hạ tầng AI vào từng cấp quy hoạch đô thị, tương tự các hệ thống điện, giao thông và cấp thoát nước. Trong đó, quy hoạch chung cần xác định mạng cáp quang, quỹ đất và nguồn điện cho trung tâm dữ liệu; quy hoạch phân khu bố trí hệ thống cống bể dùng chung, đồng thời áp dụng nguyên tắc "một lần đào" khi triển khai hạ tầng nhằm hạn chế việc thi công lặp lại.
Ở góc độ quản trị phục vụ người dân, ông Kiều Việt Cường, Quyền Trưởng Đại diện UN-Habitat Việt Nam, cho rằng công nghệ và dữ liệu cần được sử dụng để cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ đô thị.
Theo ông, số lượng công trình và dịch vụ chưa phản ánh đầy đủ mức độ đáp ứng nhu cầu của người dân, bởi khả năng tiếp cận còn phụ thuộc vào vị trí, thời gian di chuyển, chi phí và những điều kiện sử dụng.
Dẫn trường hợp thành phố Suwon của Hàn Quốc, ông Cường cho biết kết quả khảo sát cho thấy chỉ 58,9% dân cư có khả năng tiếp cận các dịch vụ và công trình được xem xét trong phạm vi 15 phút.
Theo đại diện UN-Habitat, việc sử dụng dữ liệu cần giúp cơ quan quản lý nhận diện khoảng cách giữa nguồn cung dịch vụ và nhu cầu thực tế, từ đó điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và cải thiện khả năng tiếp cận cho người dân.
Tại phiên thảo luận, ông Stefaan Verhulst, Giáo sư nghiên cứu tại Đại học New York (NYU), đồng sáng lập The GovLab, cũng nhấn mạnh phát triển đô thị thông minh cần hướng tới nâng cao chất lượng các quyết định quản lý, thay vì chỉ tập trung vào công nghệ.
Theo ông, từ những vấn đề cần giải quyết trong công tác quản lý, các đô thị mới xác định dữ liệu, công nghệ và phương thức triển khai phù hợp. Đồng thời, cần chú trọng quản trị dữ liệu trong toàn bộ vòng đời, nâng cao năng lực khai thác và triển khai thí điểm để đánh giá hiệu quả trước khi nhân rộng.

GS. Stefaan Verhulst, Đại học New York (NYU). Ảnh: Trần Trọng/Mekong ASEAN.
Phát biểu kết luận hội thảo, ông Lê Hoàng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, nhấn mạnh phát triển đô thị thông minh phải phù hợp với điều kiện và nhu cầu thực tế của từng địa phương.
Theo ông Trung, dữ liệu là nền tảng quan trọng nhưng chỉ thực sự có giá trị khi được khai thác để phục vụ công tác quản lý.
Việc ứng dụng công nghệ phải xuất phát từ những bài toán cụ thể, gắn với khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu và đánh giá hiệu quả thực tế.
Đồng thời, các cơ chế, chính sách cần tiếp tục được cập nhật để đáp ứng những thay đổi về công nghệ, phương thức quản trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
Đối với nguồn lực triển khai, huy động theo mô hình "Ba nhà", kết hợp giữa Nhà nước, nhà trường và viện nghiên cứu, doanh nghiệp nhằm nghiên cứu, phát triển giải pháp và triển khai các mô hình đô thị thông minh phù hợp với thực tiễn.
"Dữ liệu phải trở thành nền tảng của quản trị, công nghệ phải là công cụ để nâng cao hiệu quả, còn người dân và doanh nghiệp phải thực sự là trung tâm, là chủ thể và thụ hưởng những thành quả của phát triển đô thị thông minh", ông Lê Hoàng Trung cho biết.



