Mỹ đối mặt điểm yếu chiến lược mới khi kho vũ khí tiên tiến suy giảm nghiêm trọng

Năng lực sản xuất hạn chế cùng mức tiêu hao khổng lồ trong chiến dịch tấn công Iran khiến quá trình khôi phục các kho tên lửa chủ lực của Mỹ kéo dài đến cuối thập niên này.

Dù vẫn là cường quốc quân sự số một thế giới, Mỹ đang đối mặt áp lực bổ sung kho vũ khí khi nhiều hệ thống phòng thủ và tấn công tiên tiến bị suy giảm nghiêm trọng (trong ảnh: Tên lửa hành trình Tomahawk được phóng từ tàu khu trục USS Barry trên Địa Trung Hải). Ảnh: AFP/TTXVN

Dù vẫn là cường quốc quân sự số một thế giới, Mỹ đang đối mặt áp lực bổ sung kho vũ khí khi nhiều hệ thống phòng thủ và tấn công tiên tiến bị suy giảm nghiêm trọng (trong ảnh: Tên lửa hành trình Tomahawk được phóng từ tàu khu trục USS Barry trên Địa Trung Hải). Ảnh: AFP/TTXVN

Kho vũ khí tầm xa và hệ thống phòng không, phòng thủ tên lửa quan trọng của Mỹ đang trở thành một điểm yếu chiến lược mà các đối thủ có thể lợi dụng. Theo một báo cáo mới, Mỹ sẽ mất nhiều năm để thay thế và bổ sung một số hệ thống vũ khí tiên tiến đã được sử dụng trong cuộc chiến với Iran.

Hệ quả từ cuộc chiến với Iran

Trong cuộc chiến 40 ngày với Iran (nổ ra vào cuối tháng 2/2026), Mỹ đã tiêu thụ quá nhiều vũ khí tấn công và phòng thủ quan trọng đến mức sẽ cần 3 năm hoặc hơn để xây dựng lại một số kho dự trữ về mức trước chiến tranh. Đây là kết luận từ báo cáo mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), do Đại tá Thủy quân Lục chiến Mỹ đã nghỉ hưu Mark F. Cancian và chuyên gia Chris H. Park biên soạn.

Báo cáo nêu bật những lo ngại đã được đặt ra từ trước và trong Chiến dịch "Epic Fury" về việc tiêu hao nhanh chóng các loại đạn dược quan trọng và hệ quả của điều đó đối với một cuộc chiến tiềm tàng trong tương lai.

Đáng chú ý, "đèn cảnh báo" về nguồn cung vũ khí của Mỹ đã "nhấp nháy" từ trước Chiến dịch Epic Fury: Kho dự trữ tên lửa Standard Missile-3 (SM-3) và đạn dược cho hệ thống đánh chặn THAAD đã bị suy giảm sau hơn một năm giao tranh ở khu vực Biển Đỏ với lực lượng Houthi cùng các nỗ lực bảo vệ Israel. Trong khi đó, sự hỗ trợ của Mỹ cho Ukraine đã làm cạn kiệt nguồn cung cấp tên lửa đánh chặn phòng không Patriot.

CSIS lưu ý rằng các số liệu dưới đây chỉ đề cập đến Chiến dịch Epic Fury, không bao gồm các cuộc xung đột trước đây của Mỹ tại Trung Đông:

Tên lửa Tomahawk: Mất 1/3 kho dự trữ

Theo CSIS, sự suy giảm nghiêm trọng nhất liên quan đến tên lửa hành trình Tomahawk (TLAM), cùng với các tên lửa đánh chặn THAAD và Patriot.

Dựa trên các tài liệu ngân sách năm tài chính 2027 của Lầu Năm Góc, CSIS tính toán rằng trước khi chiến dịch Epic Fury khai hỏa ngày 28/2, Mỹ có khoảng 3.100 tên lửa TLAM. Lực lượng Mỹ đã phóng hơn 1.000 quả trong suốt cuộc xung đột - tương đương khoảng 1/3 tổng số tên lửa trên. Để bổ sung lượng này cần rất nhiều thời gian: mức mua sắm Tomahawk trung bình chỉ đạt 86 quả trong 10 năm tài chính vừa qua (2015-2026).

Mặc dù nhà sản xuất Raytheon đặt mục tiêu nâng năng lực lên hơn 1.000 tên lửa mỗi năm, tỷ lệ sản xuất gần đây chỉ dưới 200 quả do các đơn đặt hàng trước đây nhỏ. CSIS nhấn mạnh rằng các đơn đặt hàng hiện tại sẽ bắt đầu bù đắp lượng đã dùng, nhưng không đủ để khôi phục hoàn toàn kho dự trữ về mức trước chiến tranh. Một yếu tố tác động cộng hưởng là doanh số bán vũ khí cho nước ngoài, với gần 800 quả dành cho Nhật Bản, Australia và Hà Lan.

THAAD: Dùng tới 73% kho dự trữ

CSIS ước tính trước chiến tranh, Mỹ có khoảng 400 tên lửa đánh chặn THAAD. Trong suốt cuộc chiến, khoảng 190 - 290 tên lửa đã được sử dụng, trong đó khoảng 200 quả được triển khai riêng để bảo vệ Israel, theo tờ Washington Post. Quân đội Mỹ đã yêu cầu 857 tên lửa đánh chặn THAAD trong năm tài chính 2027, với dự kiến giao hàng bắt đầu vào giữa năm 2029 và hoàn tất thay thế lượng đã dùng vào cuối năm 2029.

CSIS cho biết năng lực sản xuất tên lửa THAAD hiện ở mức cao điểm là 96 tên lửa đánh chặn mỗi năm. Với cơ sở và thiết bị bổ sung, Lockheed Martin dự định tăng lên 400 quả mỗi năm - mức tăng được đánh giá là cần thiết để đáp ứng các đơn đặt hàng lớn từ Mỹ và các đồng minh.

Patriot: Cần chờ đến năm 2029

Đầu cuộc chiến, kho vũ khí của Mỹ có khoảng 2.500 tên lửa đánh chặn Patriot. Trong xung đột, từ 1.060 đến 1.430 tên lửa đã được sử dụng, bao gồm các biến thể PAC-2 và PAC-3. CSIS cảnh báo rằng do mức mua sắm trung bình chỉ 225 quả mỗi năm trong thập kỷ qua, lượng hàng giao trong các năm trước sẽ không đủ bù đắp.

Mỹ sẽ phải chờ 3.203 tên lửa Patriot được yêu cầu trong ngân sách năm tài chính 2027, với dự kiến giao hàng bắt đầu vào tháng 5/2029. Theo hợp đồng ký kết với Lầu Năm Góc hồi tháng 1 năm nay, Lockheed Martin cam kết nâng sản lượng Patriot hàng năm lên 2.000 quả.

SM-3 và SM-6: Hai năm để phục hồi

Trước chiến dịch Epic Fury, Hải quân Mỹ có khoảng 400 tên lửa SM-3 (tên lửa phòng không, phòng thủ tên lửa được trang bị trên các chiến hạm) và đã dùng khoảng 250 quả. Kho SM-6 (tên lửa phòng không, đánh chặn siêu vượt âm) có khoảng 1.250 quả, với 190 đến 370 quả đã được phóng.

CSIS ước tính sẽ mất khoảng 2 năm để bổ sung hai loại tên lửa này về mức trước chiến tranh. Cơ quan Phòng thủ Tên lửa và Hải quân Mỹ đã yêu cầu trong ngân sách năm tài chính 2027: 78 tên lửa SM-3 Block IB, 136 tên lửa SM-3 Block IIA và 540 tên lửa SM-6, song các đơn đặt hàng này sẽ mất từ 36 đến 39 tháng để bắt đầu giao hàng sau khi Quốc hội Mỹ phê duyệt kinh phí.

JASSM và PrSM: Tín hiệu tích cực hơn

Với tên lửa không đối đất tầm xa JASSM, Mỹ bắt đầu chiến dịch với hơn 4.000 quả và đã bắn hơn 1.100 quả. Tuy nhiên, CSIS đánh giá lượng dự trữ sẽ phục hồi khá nhanh nhờ sản lượng đã được tăng mạnh và các đơn đặt hàng trước đó đang được giao. Không quân Mỹ trung bình mua gần 500 quả JASSM mỗi năm trong thập kỷ qua.

Tên lửa tấn công chính xác phóng từ mặt đất (PrSM) - vũ khí tương đối mới, được sử dụng lần đầu trong chiến dịch Epic Fury - có tình trạng đáng lo hơn. CSIS ước tính trước chiến tranh chỉ có chưa đến 100 quả, với 40 đến 70 quả đã được dùng. Lockheed Martin đang mở rộng sản xuất PrSM, đặt mục tiêu 400 quả mỗi năm và thông báo sẽ tiếp tục tăng theo thỏa thuận khung với chính quyền Trump.

Lầu Năm Góc trấn an, nhưng hệ quả thực tế đã hiện rõ

Khi được hỏi về báo cáo của CSIS, Lầu Năm Góc không bày tỏ lo ngại. Phát ngôn viên Sean Parnell tuyên bố: "Quân đội Mỹ là lực lượng mạnh nhất thế giới và có mọi thứ cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ vào thời điểm và địa điểm do tổng thống lựa chọn".

Tuy nhiên, thực tế đang cho thấy những hệ quả cụ thể. Quyền Bộ trưởng Hải quân Mỹ Hung Cao đã điều trần trước Thượng viện rằng Mỹ đang tạm dừng bán vũ khí cho Đài Loan vì cuộc chiến với Iran. Uy tín của Mỹ với tư cách nhà cung cấp vũ khí cũng bị ảnh hưởng khi nước này đã cắt giảm nguồn cung Patriot và các vũ khí khác cho Ukraine do lo ngại về kho dự trữ trong nước.

CSIS ghi nhận rằng ngân sách quốc phòng năm tài chính 2027 trị giá 1,5 nghìn tỷ USD của chính quyền Trump phản ánh những lo ngại về nguồn cung đạn dược. Một khoản bổ sung ngân sách chiến tranh để mua thêm đạn dược dự kiến sẽ được cấp khi Lầu Năm Góc tìm cách thay thế những gì đã tiêu hao và xây dựng kho dự trữ cao hơn mức trước chiến tranh.

Trong bối cảnh căng thẳng toàn cầu leo thang, câu hỏi đặt ra là liệu ngay cả khi đẩy nhanh sản xuất, Mỹ có đủ vũ khí để đáp ứng nhu cầu trong tương lai gần hay không. Đặc biệt, vẫn có khả năng không nhỏ là các vũ khí này sẽ tiếp tục bị tiêu hao nếu xung đột Mỹ - Iran tái diễn. Theo CSIS, với thỏa thuận ngừng bắn mong manh và các cuộc đàm phán hòa bình đang bế tắc, nguy cơ cạn kiệt kho vũ khí của Mỹ vẫn là một thực tế hiện hữu.

Công Thuận/Báo Tin tức và Dân tộc

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/quan-su/my-doi-mat-diem-yeu-chien-luoc-moi-khi-kho-vu-khi-tien-tien-suy-giam-nghiem-trong-20260603141923750.htm