Nâng ‘chất’ nguồn nhân lực: Thước đo thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW

Chuyển căn bản từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia một trong những nội dung căn cốt của quá trình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Xác định mục tiêu lớn

Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định nhiệm vụ, giải pháp: “Tăng cường đầu tư, đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Có cơ chế, chính sách hấp dẫn về tín dụng, học bổng và học phí để thu hút học sinh, sinh viên giỏi theo học các lĩnh vực toán học, vật lý, sinh học, hoá học, kỹ thuật và công nghệ then chốt, nhất là ở các trình độ sau đại học. Xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo tài năng trên các lĩnh vực”.

Việc đặt nguồn nhân lực ở vị trí quan trọng trong một nghị quyết có ý nghĩa chiến lược về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho thấy định hướng đúng đắn Đảng. Máy móc, dây chuyền, công nghệ có thể được đầu tư, chuyển giao, nhưng khả năng tiếp nhận, vận hành, làm chủ, cải tiến và tạo ra giá trị mới, phụ thuộc trước hết vào trình độ của con người. Công nghệ càng phát triển nhanh, yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực cao. Nền kinh tế càng muốn tiến lên những nấc thang có giá trị gia tăng lớn phải giảm dần sự phụ thuộc vào lao động giản đơn, gia công, lắp ráp và những lợi thế chi phí thấp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: Báo Nhân Dân

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Ảnh: Báo Nhân Dân

Tinh thần trên được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh rõ hơn tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW. Theo Thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị: Một trong những định hướng lớn trong thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW giai đoạn tới: “Chuyển căn bản từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. Xác định đây là mục tiêu lớn, đồng thời là thước đo quan trọng của việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW trong giai đoạn mới. Từng bước chuyển từ mô hình phát triển chủ yếu dựa vào lao động giản đơn, gia công, lắp ráp và khai thác lợi thế sẵn có sang mô hình phát triển dựa chủ yếu trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao, trong đó người nông dân làm chủ công nghệ nông nghiệp hiện đại, người công nhân làm chủ công nghệ và thiết bị tiên tiến, đội ngũ doanh nhân tiên phong trong đổi mới sáng tạo, đội ngũ cán bộ chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Lao động sáng tạo phải trở thành nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia trong tương lai”.

Yêu cầu trên đòi hỏi phải từng bước chuyển từ mô hình chủ yếu dựa vào lao động giản đơn, gia công, lắp ráp và khai thác lợi thế sẵn có sang mô hình dựa chủ yếu trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao. Trong đó, người nông dân làm chủ công nghệ nông nghiệp hiện đại, người công nhân làm chủ công nghệ và thiết bị tiên tiến, đội ngũ doanh nhân tiên phong trong đổi mới sáng tạo, đội ngũ cán bộ chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.

Nhận diện điểm nghẽn

Việt Nam đang có lợi thế đáng kể về quy mô nguồn nhân lực. Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 53,5 triệu người, tăng 589,5 nghìn người so với năm trước; số người có việc làm đạt 52,4 triệu người, tăng 578,3 nghìn người. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng trong công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.

Nhưng quy mô lao động lớn mới là lợi thế về số lượng. Khả năng chuyển lợi thế dân số thành năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng và sức sáng tạo của lực lượng lao động. Nguồn nhân lực Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ, có những ưu thế về khả năng học hỏi và tiếp cận công nghệ mới, song lực lượng thực sự có thể dẫn dắt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vẫn chưa đáp ứng yêu cầu. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ năm 2025 mới đạt 29,2%, quý I/2026 đạt 29,6%, cho thấy tỷ lệ nhân lực được đào tạo bài bản theo chuẩn nghề nghiệp, chuẩn kỹ năng còn khiêm tốn trước yêu cầu của một nền kinh tế ngày càng dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và năng suất.

Vẫn còn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu của nền kinh tế. Nhiều lao động trẻ khi bước vào môi trường doanh nghiệp vẫn bộc lộ hạn chế về ngoại ngữ, tác phong làm việc và khả năng thích ứng. Trong khi công nghệ thay đổi nhanh, doanh nghiệp cần những người có khả năng học cái mới, cập nhật nhanh, thích nghi và phát triển cùng công việc thì đây lại vẫn là điểm yếu của một bộ phận nhân lực trẻ. Đào tạo vẫn còn tình trạng nặng lý thuyết, nhẹ thực hành, chưa quan tâm đúng mức đến kỹ năng xã hội, kỹ năng sống, khả năng tự học và kỹ năng sáng tạo; đất nước còn thiếu các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trong một số lĩnh vực quản lý, khoa học và công nghệ. Cơ cấu đào tạo vẫn tồn tại tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, trong khi nền kinh tế thiếu đội ngũ lao động chuyên môn kỹ thuật có trình độ cao đẳng và trung cấp.

Thực trạng nguồn nhân lực hiện nay càng cho thấy định hướng của Nghị quyết số 57-NQ/TW và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt vấn đề đúng vào điểm cần phải tạo chuyển biến.

Thay đổi tư duy đào tạo

Để tạo ra sự chuyển biến căn bản về chất lượng nguồn nhân lực, trước hết phải thay đổi tư duy đào tạo theo hướng chuẩn bị cho năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia, chuyển từ nặng về bằng cấp sang coi trọng nghề nghiệp, từ đào tạo theo khả năng sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo đơn đặt hàng, chuẩn kỹ năng và kết quả đầu ra.

Cần nhìn nhận đúng vị trí của giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: Du Ca

Cần nhìn nhận đúng vị trí của giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: Du Ca

Cùng với đó là yêu cầu nhìn nhận đúng vị trí của giáo dục nghề nghiệp. Một nền kinh tế hiện đại cần các nhà khoa học, chuyên gia, kỹ sư trình độ cao, nhưng cũng cần một lực lượng đông đảo những người thợ giỏi, kỹ thuật viên giỏi, lao động vận hành giỏi. Đại học ứng dụng, cao đẳng thực hành và trường nghề chất lượng cao phải thực sự gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường; giá trị của kỹ năng nghề nghiệp cần được đánh giá đúng với những đóng góp thực tế mà người lao động tạo ra.

Mối liên kết giữa Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp cũng cần được tổ chức lại theo hướng thực chất, trong đó các bên cùng tham gia thiết kế và cùng chịu trách nhiệm đối với chất lượng đầu ra. Nhà trường phải xuất phát nhiều hơn từ nhu cầu của địa phương, doanh nghiệp và yêu cầu của thị trường lao động tương lai để xây dựng chương trình, tăng thời lượng thực hành, học kỳ thực tập và đưa các bài toán thực tế vào đồ án, luận văn.

Đổi mới chương trình cũng cần đi sâu vào phương pháp đào tạo thay vì dừng ở việc bổ sung một vài môn học mới. Giảm học thụ động, tăng học theo dự án, theo vấn đề, tăng thực hành, nghiên cứu, nâng chuẩn ngoại ngữ, kỹ năng số, kỹ năng mềm và năng lực tự học là những yêu cầu có ý nghĩa trực tiếp đối với khả năng thích ứng lâu dài của người lao động. Trong một nền kinh tế mà công nghệ thay đổi với tốc độ ngày càng nhanh, kiến thức có được ở nhà trường chỉ có thể là nền tảng ban đầu; khả năng tiếp tục học hỏi và cập nhật trong suốt quá trình làm việc mới quyết định sức cạnh tranh lâu dài của mỗi người.

Phát triển lao động sáng tạo còn đòi hỏi một môi trường khuyến khích con người đặt câu hỏi, thử nghiệm, phản biện và tìm ra những cách làm tốt hơn. Nhân lực chất lượng cao không thể được nhận diện đơn thuần qua trình độ chuyên môn mà còn phải thể hiện ở năng lực hợp tác, tư duy phản biện, khả năng sáng tạo và bản lĩnh học hỏi từ thất bại. Một nền giáo dục chỉ đào tạo những người thực hiện đúng quy trình sẽ khó hình thành lực lượng có khả năng dẫn dắt những thay đổi lớn.

Có thể thấy rằng, xuyên suốt từ Nghị quyết số 57-NQ/TW đến kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là yêu cầu gắn phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với phát triển con người. Nguồn nhân lực phải từng bước trở thành nguồn lực tạo ra tri thức, công nghệ, năng suất và giá trị mới, thay vì chủ yếu được nhìn nhận như một yếu tố đầu vào dựa trên lợi thế đông và chi phí thấp.

Chất lượng nguồn lao động Việt Nam là tài sản vô giá của quốc gia; chăm lo cho người lao động cũng chính là chăm lo cho tương lai của đất nước. Đầu tư cho nguồn nhân lực cần được đặt trong tầm nhìn của một chiến lược phát triển quốc gia, bởi khi con người được đào tạo đúng, sử dụng hiệu quả và có môi trường phát huy năng lực sáng tạo, lợi thế dân số mới có thể được chuyển hóa thành lợi thế phát triển.

Yêu cầu chuyển căn bản từ lao động giản đơn sang lao động sáng tạo vì thế phải được nhìn bằng những chuyển biến thực tế trong từng khu vực của nền kinh tế: người nông dân từng bước làm chủ công nghệ nông nghiệp hiện đại; người công nhân có khả năng vận hành, làm chủ và cải tiến thiết bị tiên tiến; doanh nghiệp hình thành năng lực đổi mới sáng tạo; đội ngũ cán bộ chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.

Theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, mục tiêu đến năm 2030, nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân; có từ 40 - 50 tổ chức khoa học và công nghệ được xếp hạng khu vực và thế giới; số lượng công bố khoa học quốc tế tăng trung bình 10%/năm; số lượng đơn đăng ký sáng chế, văn bằng bảo hộ sáng chế tăng trung bình 16 - 18%/năm, tỉ lệ khai thác thương mại đạt 8 - 10%.

Hà Trang

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nang-chat-nguon-nhan-luc-thuoc-do-thuc-hien-nghi-quyet-so-57-nq-tw-468742.html