Nâng mục tiêu diện tích lúa chất lượng cao lên 1,65 triệu ha

Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa trình Thủ tướng Chính phủ phương án sửa đổi, bổ sung Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng ĐBSCL đến năm 2030” với đề xuất mở rộng diện tích tham gia lên mức 1,65 triệu ha.

Kết quả đạt được sau gần 3 năm triển khai Đề án

Hơn 175.000 hộ dân đăng ký tham gia Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030", 420.813 ha diện tích được dụng toàn bộ hoặc một phần quy trình bền vững.

Đây là những kết quả được bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chia sẻ tại Hội nghị Ngày Lương thực thế giới năm 2026 và tăng cường hợp tác triển khai Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” ngày 15/10.

Sự kiện với chủ đề “Sáng tạo cho ngày mai đủ đầy", do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) tổ chức.

Toàn cảnh diễn đàn.

Toàn cảnh diễn đàn.

Bà Hương cho biết, trải qua gần 3 năm, đến nay Đề án đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung, mở rộng liên kết hợp tác xã – doanh nghiệp; áp dụng kỹ thuật giảm đầu vào, giảm phát thải; bước đầu gắn sản xuất với thị trường cao cấp.

Số mô hình liên kết ghi nhận tăng nhanh trong những năm qua. Nếu năm 2024 mới có 7 mô hình với 302 ha diện tích áp dụng đầy đủ quy trình canh tác giảm phát thải, năm 2026 con số đã lên hơn 376 mô hình với 67.784 ha (khoảng 50ha/mô hình).

Lượng giống gieo sạ giảm 30 – 50%, giảm phân bón hóa học 20 – 30%, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật giảm 2 – 3 lần/vụ; giảm lượng nước tưới 20 – 40%, năng suất giữ hoặc tăng từ 5 -12%; lợi nhuận tăng 1,5 - 9,3 triệu đồng/ha/vụ; giảm từ 3 – 4 tấn CO2/ha/vụ.

Đến năm 2026, 552,4 tấn gạo mang định hướng “Gạo Việt xanh, phát thải thấp” đã xuất khẩu sang Nhật Bản, Australia, Singapore và Malaysia.

Về tín dụng ưu đãi phục vụ cho Đề án, đến cuối tháng 4/2026, khoảng 4.000 tỷ đồng tín dụng và nguồn lực doanh số đã được giải ngân; lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm.

Kết quả trên được đánh giá là tích cực, dù vậy bà Hương cũng chỉ ra những khó khăn, hạn chế của Đề án. Cho đến nay cơ chế chính sách và hạ tầng chưa được đồng bộ; thủy lợi, giao thông nội đồng, kho chứa và logistics còn hạn chế.

Với tín dụng và nguồn lực, Ngân hàng Nhà nước đã có chương trình tín dụng cho Đề án và tổ chức quốc tế tham gia tích cực, nhưng việc tiếp cận tài chính xanh và nguồn lực quốc tế chưa được huy động đồng đều.

Về thương hiệu, Việt Nam đã có thương hiệu xanh phát thải thấp, được Bộ Khoa học & Công nghệ bảo hộ. Dù vậy các chương trình xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu còn thiếu.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.

Mục tiêu không chỉ là 1 triệu ha lúa

Tại hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp một lần nữa khẳng định, ý nghĩa lớn nhất của Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030” là sự thay đổi phương thức sản xuất và tổ chức ngành hàng trên quy mô lớn.

Điều này bao gồm việc áp dụng quy trình canh tác bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, nâng cao vai trò hợp tác xã trong vai trò chuỗi giá trị, tăng cường đầu tư, nguồn lực để chuyển đổi xanh, giảm phát thải.

Thứ trưởng cho rằng, Việt Nam cần chuyển từ lợi thế về sản lượng sang chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh dài hạn. Quá trình này phải gắn với trách nhiệm bảo vệ môi trường và mang lại lợi ích thiết thực cho người nông dân.

“Thành công của Đề án không chỉ được đo bằng diện tích triển khai mà còn bằng chất lượng hạt gạo, hiệu quả sản xuất và thu nhập của người nông dân,” Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp nhận định.

Cũng tại hội nghị, Thứ trưởng cho biết, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình Thủ tướng Chính phủ phương án sửa đổi, bổ sung Quyết định số 1490/QĐ-TTg về Đề án, trong đó đề xuất mở rộng diện tích tham gia từ 1 triệu ha lên 1,65 triệu ha.

Đồng thời, cùng với địa phương, Nhà nước cũng chủ động đầu tư, nhằm nhanh chóng nâng cao giá trị sản xuất, thực hiện quy trình canh tác đầy đủ.

Thứ trưởng kỳ vọng phương án điều chỉnh sẽ được quyết định trong tháng 10, theo hướng cam kết bền vững hơn, diện tích nhiều hơn, đối tượng tham gia đông đảo hơn, hiệu quả mang tính thực chất và bền vững hơn.

 Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp.

Chia sẻ rõ hơn về định hướng phát triển đến năm 2030, bà Nguyễn Thị Thu Hương cho biết, bên cạnh đề xuất mở rộng diện tích, Đề án còn hướng tới 100% diện tích sản xuất lúa chất lượng cao gắn với giảm phát thải và tăng trưởng xanh được tổ chức sản xuất theo các hình thức liên kết phù hợp; tỷ lệ cơ giới hóa đồng bộ đạt trên 70%.

Về canh tác bền vững, lượng lúa giống sử dụng giảm 30%; giảm 30% lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học; giảm 20% lượng nước tưới; 100% diện tích áp dụng ít nhất một quy trình canh tác bền vững, được cấp mã số vùng trồng theo yêu cầu quản lý của địa phương.

Về bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch dưới 8%; 100% rơm, rạ được thu gom; giảm hơn 10% lượng phát thải khí nhà kính.

Giá trị gia tăng trong chuỗi lúa gạo tăng 40%; tỷ suất lợi nhuận đạt trên 50%.

Về xây dựng thương hiệu và xuất khẩu, lượng gạo xuất khẩu mang thương hiệu gạo xanh, phát thải thấp chiếm trên 20% tổng lượng gạo xuất khẩu của toàn vùng chuyên canh.

Để đạt mục tiêu này, bà Hương đề xuất, Chính phủ, các bộ ngành và Trung ương tiếp tục quan tâm chỉ đạo và bố trí nguồn lực để triển khai Đề án; tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành trong các lĩnh vực đầu tư, tín dụng, khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, biến đổi khí hậu và thị trường carbon.

Địa phương ưu tiên nâng chất lượng các vùng đã tham gia Đề án; không mở rộng diện tích khi chưa bảo đảm điều kiện về thủy lợi, tổ chức sản xuất và thị trường.

Các doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến và xây dựng thị trường. Hợp tác xã cần chuyển từ vai trò tập hợp nông dân sang tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ và quản lý chất lượng của cả vùng.

Nói thêm về giải pháp tín dụng – tài chính, ông Trần Đại Nghĩa, Điều phối quốc gia, chuyên gia Tài chính khí hậu của FAO tại Việt Nam cho rằng, chuyển đổi sang sản xuất lúa phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu đòi hỏi nguồn lực tài chính lớn.

Ước tính giai đoạn 2022 - 2040, Việt Nam sẽ cần khoảng 368 tỷ USD để tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu và giảm phát thải carbon. Tuy nhiên, việc huy động vốn cho sản xuất lúa bền vững còn nhiều khó khăn do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chi phí giao dịch cao, rủi ro nông nghiệp khó dự báo và thiếu các dự án được chuẩn bị đầy đủ để thu hút đầu tư.

Để tháo gỡ những hạn chế này, ông Trần Đại Nghĩa nhấn mạnh vai trò của viện trợ không hoàn lại và tài chính hỗn hợp trong giảm thiểu rủi ro, hỗ trợ các dự án có khả năng sinh lời thấp hoặc cần thời gian dài để thu hồi vốn.

Ông cho rằng, các công cụ như trái phiếu xanh, bảo lãnh đầu tư và bảo hiểm nông nghiệp cần được phát triển đồng bộ nhằm khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho nông dân và doanh nghiệp nhỏ.

Lê Hồng Nhung

Nguồn Mekong Asean: https://mekongasean.vn/nang-muc-tieu-dien-tich-lua-chat-luong-cao-len-165-trieu-ha-60675.html