Nâng tầm điểm đến từ văn hóa bản địa
Khi cộng đồng trở thành chủ thể câu chuyện của chính mình, văn hóa trở thành nguồn tài nguyên sống, vừa bảo tồn bản sắc, vừa tạo sinh kế bền vững cho vùng đất.

Kiều Maily và tô mỳ Hội An ở Karichampa - Không gian văn hóa Chăm tại Hội An. Ảnh: HÀ SẤU
Điều níu chân du khách lâu dài chính ở chiều sâu văn hóa bản địa, với những giá trị không thể sao chép. Phát triển du lịch trên nền các giá trị bản địa cũng là hướng đi đang được nhiều người làm du lịch cộng đồng theo đuổi, từ Hội An, Cù Lao Chàm đến các vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền Trung.
Kể câu chuyện quê hương
Hơn mười năm qua, chị Kiều Maily dành phần lớn thời gian rong ruổi qua những vùng đất có cộng đồng người Chăm sinh sống. Chị nói, đi để lắng nghe ký ức, ghi chép câu chuyện văn hóa.
Hiện nay, tại Hội An, chị xây dựng một Không gian văn hóa Chăm nhỏ, nơi du khách không chỉ được xem hiện vật mà còn được nghe những câu chuyện chân thực về đời sống, tín ngưỡng, phong tục và tri thức bản địa. Theo chị, điều quan trọng nhất là “làm thật, kể thật”, bởi chỉ có sự chân thành mới tạo nên những kết nối cảm xúc lâu dài giữa con người với văn hóa.
Quan điểm ấy cũng mở ra một góc nhìn khác về phát triển du lịch cộng đồng. Văn hóa không phải là “màn trình diễn” để phục vụ khách, càng không phải thứ có thể dàn dựng theo nhu cầu thị trường. Giá trị của văn hóa nằm ở tính nguyên bản và khả năng truyền cảm hứng.
Chị Kiều Maily cho rằng, bảo tồn văn hóa không nhất thiết bắt đầu từ những dự án quy mô lớn mà có thể khởi nguồn từ những việc rất nhỏ, như gìn giữ tri thức cây thuốc nam của người Raglai hay kể lại những câu chuyện đời thường bằng chính tiếng nói của cộng đồng. Khi người dân yêu và hiểu văn hóa của mình, họ sẽ biết cách gìn giữ và lan tỏa những giá trị ấy một cách tự nhiên.
Sự phát triển của công nghệ, trí tuệ nhân tạo và các sản phẩm du lịch đại trà đang khiến nhiều người có xu hướng tìm về những không gian nguyên bản hơn. Đây cũng là lý do ngày càng nhiều chuyên gia cho rằng tương lai của du lịch cộng đồng không nằm ở việc xây dựng thêm nhiều điểm check-in mà ở khả năng mang đến cho du khách những trải nghiệm sống thực.
Theo chị Đặng Hương Giang, đại diện Tổ chức Children of Vietnam, điều quý giá nhất ở những vùng quê hay cộng đồng bản địa không phải là sự thiếu thốn về vật chất mà chính là cơ hội để con người được sống một nhịp sống chân thực, gần gũi với thiên nhiên và văn hóa truyền thống.
Chị cho rằng, trong khoảng 20-30 năm tới, khi thế giới ngày càng đô thị hóa và số hóa, những trải nghiệm ấy sẽ trở thành tài sản vô cùng giá trị. Những du khách tìm đến các cộng đồng bản địa sẽ không chỉ là người có khả năng chi trả cao mà còn là những người biết trân trọng văn hóa địa phương.
Quan trọng hơn, nếu được tổ chức đúng hướng, du lịch cộng đồng không làm cạn kiệt tài nguyên mà ngược lại còn giúp tài nguyên văn hóa được hồi sinh. Cộng đồng càng tham gia nhiều, người dân càng tự hào về quê hương; thế hệ trẻ càng hiểu hơn về cội nguồn của mình; các mối quan hệ trong làng bản cũng được gắn kết thông qua quá trình cùng làm du lịch.

Chị Lê Thị Bích Công với sản phẩm trà lá rừng Cù Lao Chàm của Hợp tác xã Mộc Chàm. Ảnh: VĨNH LỘC
Từ góc độ phát triển, chị Hương Giang nhấn mạnh cộng đồng phải trở thành chủ thể của toàn bộ quá trình. Người dân không chỉ là người biểu diễn hay cung cấp dịch vụ, mà phải được quyền quyết định mình sẽ kể câu chuyện gì, giữ gìn giá trị nào và phát triển sản phẩm ra sao.
Muốn làm được điều đó, người trẻ cần được tham gia đánh giá các giá trị của chính quê hương, được tiếp cận những mô hình thành công, được đồng hành trong quá trình xây dựng sản phẩm và từng bước làm chủ hoạt động du lịch. Chỉ khi ấy, phát triển du lịch mới thực sự gắn với bảo tồn văn hóa thay vì khai thác văn hóa.
Mỗi sản phẩm là một “đại sứ văn hóa”
Nếu Hội An đang tạo nên những không gian kể chuyện văn hóa thì tại Cù Lao Chàm, nhiều người trẻ lại chọn một hướng đi khác: kể câu chuyện quê hương thông qua các sản phẩm bản địa.
Theo chị Lê Thị Bích Công, Giám đốc Hợp tác xã Mộc Chàm (xã Tân Hiệp), mục tiêu của phát triển du lịch không nên chỉ dừng lại ở việc gia tăng số lượng khách đến đảo. Điều quan trọng hơn là nâng tầm những sản phẩm truyền thống để mỗi sản phẩm trở thành một “đại sứ văn hóa”, mang hình ảnh Cù Lao Chàm đi xa hơn.
Trong nhiều năm, Cù Lao Chàm chủ yếu khai thác các tour tham quan trong ngày. Du khách đến rồi đi khá nhanh, ít có cơ hội cảm nhận chiều sâu văn hóa của cư dân biển đảo. Trong khi đó, hòn đảo sở hữu kho tàng tri thức bản địa phong phú, từ cây ngô đồng, các loài lá rừng, nghề thủ công đến tập quán sinh hoạt của cư dân.
Hợp tác xã Mộc Chàm được thành lập với mong muốn thay đổi tư duy ấy. Những sản phẩm như trà lá rừng, túi ngô đồng hay các mặt hàng thủ công không đơn thuần là hàng hóa mà chứa đựng câu chuyện về hệ sinh thái, tập quán sinh sống và văn hóa của cư dân Cù Lao Chàm. Khi một sản phẩm được đưa đến tay người tiêu dùng ở nơi khác, câu chuyện về hòn đảo cũng được lan tỏa.
Theo chị Bích Công, đó cũng là cách làm du lịch ít gây áp lực lên môi trường. Không nhất thiết phải đưa thật nhiều khách đến đảo mới tạo ra giá trị kinh tế. Ngược lại, việc tiêu thụ sản phẩm văn hóa từ xa vừa tạo thêm thu nhập cho người dân, vừa góp phần bảo vệ hệ sinh thái vốn rất mong manh của khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Thực tế cho thấy, nhiều mô hình du lịch cộng đồng từng thành công nhờ sự mới lạ nhưng nhanh chóng giảm sức hút khi các hoạt động trải nghiệm bị “sân khấu hóa”. Người dân trở thành diễn viên bất đắc dĩ, còn văn hóa bị cắt rời khỏi đời sống thực.
Bởi vậy, phát triển du lịch cộng đồng trong giai đoạn mới cần một cách tiếp cận khác: lấy văn hóa làm nền tảng, lấy cộng đồng làm trung tâm và lấy sự bền vững làm mục tiêu. Ở đó, mỗi người dân vừa là người gìn giữ di sản, vừa là người kể chuyện; mỗi sản phẩm truyền thống là một đại diện cho bản sắc địa phương; mỗi trải nghiệm đều giúp du khách hiểu hơn về con người và vùng đất thay vì chỉ đơn thuần tham quan.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/nang-tam-diem-den-tu-van-hoa-ban-dia-3345484.html












