Nền tảng của ngân hàng hiện đại

Hành trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những chuyển động mạnh mẽ cả về thể chế, hạ tầng công nghệ, dữ liệu, thanh toán số và cải cách hành chính.

(Đồ họa: HỒNG ANH)

(Đồ họa: HỒNG ANH)

Hành trình chuyển đổi số của ngành ngân hàng đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những chuyển động mạnh mẽ cả về thể chế, hạ tầng công nghệ, dữ liệu, thanh toán số và cải cách hành chính. Từ việc hoàn thiện hành lang pháp lý, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt đến xây dựng hệ sinh thái dữ liệu an toàn, ngành ngân hàng đang từng bước tái cấu trúc phương thức vận hành, hướng tới mục tiêu lấy khách hàng làm trung tâm và nâng cao chất lượng dịch vụ.

Hoàn thiện nền tảng số

Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, sau nhiều năm thúc đẩy chuyển đổi số, ngành ngân hàng đã đạt được nhiều kết quả nổi bật trên các trụ cột chiến lược. Một trong những điểm nhấn quan trọng là xây dựng và hoàn thiện thể chế cho hoạt động ngân hàng số và thanh toán không dùng tiền mặt. Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh chỉ đạo, định hướng chuyển đổi số trong toàn ngành.

Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của ngành, tập trung vào 5 trụ cột: Phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, dữ liệu và Đề án 06. Ngân hàng Nhà nước cũng ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW và Chỉ thị số 02/CT-NHNN về đẩy mạnh chuyển đổi số, bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng năm 2026.

Trên nền tảng thể chế đó, hoạt động thanh toán số và dịch vụ ngân hàng số tiếp tục tăng trưởng mạnh. Theo Vụ trưởng Thanh toán (Ngân hàng Nha nước) Phạm Anh Tuấn, hầu hết các dịch vụ ngân hàng cơ bản hiện đã được số hóa hoàn toàn, nhiều tổ chức tín dụng đạt tỷ lệ giao dịch số hơn 95%. Trong 5 tháng đầu năm 2026, giao dịch trên internet tăng khoảng 66%, giao dịch trên kênh di động tăng 33%, trong khi thanh toán qua mã QR tăng hơn 50%.

Không chỉ phát triển mạnh trong nước, thanh toán số của Việt Nam còn mở rộng ra khu vực. Từ đầu năm 2026, Việt Nam đã triển khai thanh toán song phương qua mã QR với Trung Quốc và Hàn Quốc và đến cuối năm, Việt Nam sẽ tiếp tục triển khai thanh toán QR song phương với Singapore, Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và nhiều quốc gia khác trong khu vực châu Á.

Cùng với thanh toán số, cải cách hành chính gắn với số hóa toàn trình được ngành ngân hàng thúc đẩy mạnh mẽ. Năm 2025, ngành đã bãi bỏ 33, sửa đổi 227 thủ tục hành chính, đạt tỷ lệ cắt giảm lên tới 87%. Đồng thời, bãi bỏ 202 điều kiện kinh doanh và đơn giản hóa 30 điều kiện khác nhằm giảm gánh nặng cho doanh nghiệp. Tỷ lệ hồ sơ số hóa của ngành đạt 44,36%; cấp kết quả điện tử đạt 52,01%; khai thác, sử dụng lại dữ liệu số hóa đạt 61,83%. Mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp trong xử lý phản ánh, kiến nghị đạt mức 100%.

Lấy khách hàng làm trung tâm

Một nội dung được ngành ngân hàng đặc biệt chú trọng là dữ liệu và an toàn thông tin. Ngành ngân hàng đang bám sát phương châm dữ liệu phải “đúng, đủ, sạch, sống”. Việc đối chiếu sinh trắc học thành công cho hơn 163,39 triệu hồ sơ khách hàng thông qua căn cước công dân gắn chip và VNeID đã góp phần loại bỏ tài khoản ảo, tăng tính minh bạch cho hệ thống tài chính. Bên cạnh đó, toàn bộ 154 triệu tài khoản và 36 triệu hồ sơ trong cơ sở dữ liệu phòng chống rửa tiền đã được làm sạch. Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam đã hoàn thành làm sạch gần 44,5 triệu hồ sơ khách hàng.

Ngân hàng Nhà nước đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO). Tính đến ngày 17/5, đã có hơn 4 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo rủi ro, trong đó hơn 1,3 triệu lượt khách hàng tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch lên tới hơn 4.400 tỷ đồng.

Ở góc độ các ngân hàng thương mại, chuyển đổi số không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức phục vụ khách hàng. Phó Tổng Giám đốc Vietcombank Phùng Nguyễn Hải Yến nhấn mạnh: Chuyển đổi số phải gắn với trải nghiệm khách hàng, không chỉ ở đầu tư công nghệ mà còn tạo ra trải nghiệm liền mạch, an toàn và thuận tiện. Trong giai đoạn mới, chuyển đổi số cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái số toàn diện, lấy khách hàng làm trung tâm thay vì chỉ số hóa quy trình nội bộ. Dữ liệu, trí tuệ nhân tạo (AI) và cá nhân hóa dịch vụ sẽ là những yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng.

Bà Từ Thị Kim Thanh, thành viên Hội đồng thành viên Agribank nhận định, đích đến của chuyển đổi số là tăng lượng dịch vụ hoặc doanh thu, là sự gắn kết dài lâu giữa ngân hàng với khách hàng, dựa trên nền tảng công nghệ, nền tảng dữ liệu và sự thấu hiểu sâu sắc nhu cầu của người dùng.

Ở góc nhìn khác, Phó Tổng Giám đốc phụ trách chiến lược và quản trị Ngân hàng TPBank Nguyễn Việt Anh đánh giá, giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ của ngành ngân hàng không chỉ là chuyển đổi số mà đang “đổi mới số” và “sáng tạo số”. Nếu trước đây, chuyển đổi số chủ yếu tập trung vào số hóa quy trình, tối ưu hóa hoạt động nội bộ thì hiện nay mục tiêu cao hơn là tạo ra trải nghiệm khách hàng “mượt mà nhất”, dự báo chính xác nhu cầu để cung cấp dịch vụ phù hợp. Thách thức lớn nhất của chuyển đổi số là vượt qua các giới hạn do mình đặt ra. Công nghệ hôm nay có thể lỗi thời sau 1-2 năm, đòi hỏi ngành ngân hàng phải luôn luôn đổi mới, luôn luôn vượt lên chính mình.

Bên cạnh đó, yêu cầu về an toàn, an ninh mạng tiếp tục được đặt ở vị trí then chốt. Cùng với sự phát triển của thanh toán số là nguy cơ gia tăng lừa đảo, gian lận trên môi trường số. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều quy định siết chặt an toàn bảo mật, tăng cường xác thực sinh trắc học thông qua căn cước công dân gắn chip và VNeID để bảo đảm định danh chính xác người dùng.

HỒNG ANH

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/nen-tang-cua-ngan-hang-hien-dai-post970440.html