Ngăn chặn lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi: Cần chiến lược quản lý tổng thể

Việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi cùng thực trạng xử lý chất thải chưa triệt để đang tạo ra 'vòng xoáy nguy hiểm', tiềm ẩn khả năng xuất hiện, lan rộng của vi khuẩn kháng thuốc.

Không dừng lại ở vật nuôi, nguy cơ này tác động trực tiếp đến sức khỏe con người qua môi trường và thực phẩm, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chiến lược quản lý tổng thể...

Chăm sóc đàn lợn theo tiêu chuẩn VietGAP tại trang trại ở xã Phúc Thịnh. Ảnh: Đỗ Tâm

Chăm sóc đàn lợn theo tiêu chuẩn VietGAP tại trang trại ở xã Phúc Thịnh. Ảnh: Đỗ Tâm

Nguy cơ từ chất thải và kháng sinh

Mới đây, trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học, Công nghệ Chăn nuôi và Thú y toàn quốc lần thứ nhất do Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổ chức (ngày 27 và 28-3), phiên thảo luận của Tiểu ban Khoa học Công nghệ về kháng kháng sinh, an toàn thực phẩm và các vấn đề thú y của hội nghị đã thu hút sự quan tâm của giới chuyên môn. Tại đây, nhiều tham luận đã chỉ ra những “lỗ hổng” đáng lo ngại trong công tác quản lý chất thải và sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi.

Tiến sĩ Đặng Thị Thanh Sơn (Viện Chăn nuôi và Thú y Việt Nam) trình bày một nghiên cứu đáng chú ý về thực trạng tại tỉnh Thái Bình (cũ), nay là tỉnh Hưng Yên. Báo cáo cho thấy, chất thải chăn nuôi đang trở thành “kho lưu trữ” khổng lồ của các loại vi khuẩn kháng thuốc. Cụ thể, tỷ lệ vi khuẩn kháng Colistin (loại kháng sinh dự phòng cuối cùng cho vi khuẩn siêu kháng thuốc) trong phân lợn tại các hộ chăn nuôi lên tới 60,63%.

Đáng lo ngại hơn, nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa môi trường chăn nuôi và sức khỏe con người. Theo đó, có tới 28,2% trẻ em nhập viện tại địa phương nhiễm vi khuẩn kháng thuốc (CRE), với khả năng kháng từ 4 đến 10 nhóm kháng sinh khác nhau. Đây là dấu hiệu cho thấy vi khuẩn kháng thuốc không còn giới hạn trong vật nuôi mà đã lan ra cộng đồng.

Ở một hướng tiếp cận khác, Tiến sĩ Lưu Quỳnh Hương (Viện Khoa học Kỹ thuật chăn nuôi) cảnh báo nguy cơ mất an toàn thực phẩm từ việc tái sử dụng nước thải chăn nuôi sau xử lý biogas để tưới rau. Theo kết quả nghiên cứu, hệ thống xử lý này hiện chưa thể loại bỏ hoàn toàn mầm bệnh: 58,3% mẫu nước thải và 16,7% mẫu rau ăn sống vẫn phát hiện vi khuẩn Salmonella. Khi người dân tưới rau bằng nước thải chưa được xử lý triệt để, vi khuẩn có thể bám lên các loại rau ăn sống như rau mùi, húng, hành hoa... và đi thẳng vào cơ thể người, gây các bệnh đường ruột.

Quy mô chất thải từ ngành chăn nuôi của nước ta hiện cũng là một thách thức lớn. Ước tính mỗi năm, ngành chăn nuôi phát sinh khoảng 61 triệu tấn chất thải rắn và khoảng 304 triệu mét khối nước thải, chủ yếu từ chăn nuôi lợn, trâu, bò. Tuy nhiên, chỉ khoảng 20% lượng chất thải này được xử lý và tái sử dụng hiệu quả, phần còn lại bị xả trực tiếp ra môi trường.

Riêng năm 2025, với tổng đàn khoảng 31,4 triệu con, chăn nuôi lợn là nguồn phát sinh chất thải lớn nhất, với 27-30 triệu tấn chất thải rắn và 260-300 triệu mét khối nước thải. Đáng chú ý, vi khuẩn Salmonella vẫn có thể tồn tại trong nước thải sau xử lý biogas. Việc sử dụng nguồn nước này để tưới rau có thể làm lây nhiễm vi khuẩn sang thực phẩm, trở thành nguồn gây bệnh cho con người.

Theo các nghiên cứu tại thành phố Huế, phương thức chăn nuôi vẫn chủ yếu là thả rông hoặc bán chăn thả. Trong điều kiện đó, người chăn nuôi có xu hướng phụ thuộc vào thuốc kháng sinh như giải pháp phòng và điều trị bệnh. Khảo sát cho thấy, có tới 33,3% hộ chăn nuôi sử dụng kháng sinh để phòng bệnh và 71,5% để điều trị.

Quản trị hiệu quả toàn chuỗi giá trị

Trước thực trạng trên, các chuyên gia nhận định, việc kiểm soát kháng kháng sinh không thể dừng lại ở những giải pháp đơn lẻ, mà cần chiến lược tổng thể cấp quốc gia, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành.

Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Nguyễn Văn Long lưu ý: “Đó không chỉ là câu chuyện kê đơn mà là quản trị hiệu quả toàn chuỗi giá trị, từ việc siết chặt quy trình sản xuất thức ăn công nghiệp đến thiết lập hệ thống giám sát kháng kháng sinh định kỳ để đánh giá thực chất hiệu quả của các biện pháp can thiệp”.

Ở góc độ nghiên cứu, Tiến sĩ Đặng Thị Thanh Sơn cảnh báo, trước thực trạng tỷ lệ vi khuẩn kháng Carbapenem và Colistin ở mức báo động đỏ, cần xử lý triệt để chất thải từ trang trại đến cơ sở y tế thông qua phối hợp đa ngành (One Health); triển khai các biện pháp can thiệp mạnh, hướng tới loại trừ các chủng kháng Colistin - lá chắn cuối cùng trong điều trị y tế...

Ở tầm vĩ mô, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, kháng kháng sinh đang là nguy cơ cần được cảnh báo nghiêm túc. Kháng kháng sinh không chỉ trên động vật mà còn có thể lan sang con người, gây ra những hệ lụy về sức khỏe và gia tăng tình trạng kháng kháng sinh.

Do đó, cần đổi mới cách tiếp cận trong nghiên cứu và quản lý, chuyển từ các đề tài nhỏ lẻ sang tư duy theo chuỗi, theo chương trình lớn, gắn với nhu cầu thực tiễn của ngành và thị trường. Việc kiểm soát sử dụng kháng sinh, cải thiện điều kiện chăn nuôi và xử lý chất thải cần được triển khai đồng bộ với sự phối hợp liên ngành chặt chẽ.

Kháng kháng sinh không còn là vấn đề riêng của ngành Y tế hay chăn nuôi mà đã trở thành thách thức toàn cầu với tác động sâu rộng. Tại Việt Nam, thực trạng lạm dụng kháng sinh và xử lý chất thải chưa hiệu quả đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải hành động. Sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan quản lý, nhà khoa học và người chăn nuôi là điều kiện tiên quyết để kiểm soát nguy cơ, hướng tới nền nông nghiệp an toàn và bền vững.

Ngọc Quỳnh

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/ngan-chan-lam-dung-khang-sinh-trong-chan-nuoi-can-chien-luoc-quan-ly-tong-the-742210.html