Ngành cao su Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi xanh để tăng trưởng bền vững
Giữa bối cảnh tiêu chuẩn môi trường khắt khe, chuyển đổi xanh là yêu cầu sống còn để ngành cao su Việt Nam duy trì năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Chuyển đổi xanh nay đã trở thành luật chơi bắt buộc trên thị trường quốc tế. Đối với các doanh nghiệp quy mô lớn, tái cấu trúc chuỗi cung ứng là điều kiện tiên quyết. Điển hình, Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG) đang phải thay đổi toàn diện quy trình canh tác tại các vườn cao su nhằm vượt qua những rào cản thương mại sinh thái toàn cầu.
Áp lực chứng nhận quốc tế và yêu cầu truy xuất
Hiện nay, VRG đang quản lý quỹ đất quy mô gần 400.000 ha trải dài tại Việt Nam, Lào và Campuchia, hoạt động trong các mảng trồng, khai thác, chế biến mủ đến công nghiệp gỗ và năng lượng. Trước các rào cản thương mại mới như quy định chống phá rừng của châu Âu (EUDR) hay thuế carbon, mảng sản xuất kinh doanh cao su buộc phải thay đổi phương thức vận hành để giữ được thị phần tại Mỹ và châu Âu.
Thực tế thị trường cho thấy, việc sở hữu các chứng chỉ quản lý rừng bền vững không còn là điểm cộng mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để xuất khẩu. Đến thời điểm hiện tại, Tập đoàn này ghi nhận có hơn 150.000 ha diện tích cao su được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững VFCS/PEFC-FM.
Cùng với đó, 57 nhà máy chế biến của hệ thống cũng phải hoàn thiện bộ tiêu chuẩn chuỗi hành trình sản phẩm PEFC-CoC. Nhờ những chứng nhận này, sản phẩm cao su Việt Nam mới đủ tiêu chuẩn pháp lý để không bị loại khỏi chuỗi cung ứng của các tập đoàn sản xuất lốp xe và hàng tiêu dùng toàn cầu.

Sản phẩm cao su đáp ứng EUDR có thể quét mã để định vị được toàn chuỗi sản xuất của sản phẩm, từ vườn cây đến nhà máy chế biến. Ảnh: MINH LONG
Quá trình chuyển đổi đòi hỏi doanh nghiệp phải số hóa và giám sát chặt chẽ toàn bộ chu kỳ: từ khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch mủ đến khi ra thành phẩm cuối cùng. Yêu cầu truy xuất nguồn gốc minh bạch buộc các vườn cây phải duy trì hành lang sinh thái và cam kết không xâm lấn diện tích rừng tự nhiên.
Xanh hóa khu công nghiệp và tái cơ cấu tổ chức
Dù đối mặt với chi phí chuyển đổi lớn, báo cáo tài chính năm 2025 của VRG vẫn ghi nhận các chỉ số kinh doanh ổn định với doanh thu hợp nhất đạt hơn 32.000 tỉ đồng và lợi nhuận trước thuế vượt mức 7.600 tỉ đồng. Với quy mô nhân sự lên tới hơn 80.000 lao động, bài toán chi phí nhân công luôn là áp lực lớn. Mức thu nhập bình quân của người lao động hiện duy trì trên 11 triệu đồng/người/tháng. Tuy nhiên, để tối ưu hóa quỹ lương và tăng hiệu suất, doanh nghiệp này đã phải tiến hành tinh gọn bộ máy.
Một động thái đáng chú ý trong công tác điều hành là việc VRG cắt giảm cấp quản lý trung gian, chuyển đổi mô hình sản xuất từ ba cấp xuống còn hai cấp. Việc giảm tỉ lệ lao động gián tiếp giúp bộ máy phản ứng linh hoạt hơn với các biến động của thị trường, tiết giảm chi phí quản lý doanh nghiệp và tập trung nguồn vốn cho các mảng kinh doanh cốt lõi.

Công nhân tập kết mủ cao su về nhà máy chế biến. Ảnh: MINH LONG
Bên cạnh mảng nông nghiệp, hạ tầng khu công nghiệp là nguồn thu lớn nhưng cũng đang đứng trước áp lực phải "xanh hóa". Các dự án khu công nghiệp mới do đơn vị này làm chủ đầu tư bắt buộc phải điều chỉnh quy hoạch, tăng tỉ lệ cây xanh, hoàn thiện hệ thống quan trắc môi trường độc lập và đặt ra tiêu chí sàng lọc, ưu tiên thu hút các dự án có công nghệ sản xuất sạch.
Giai đoạn 2026 - 2030, ngành cao su Việt Nam nói chung sẽ tiếp tục đối mặt với lộ trình áp dụng thuế carbon ngày càng rộng. Do đó, việc hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro môi trường, kiểm soát lượng phát thải khí nhà kính và tuân thủ các chuẩn mực báo cáo bền vững quốc tế là lộ trình bắt buộc để các doanh nghiệp trong ngành tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng xanh và duy trì tăng trưởng thực chất.
Chứng chỉ xanh: "Giấy thông hành" của ngành cao su
Để thâm nhập các thị trường lớn như Mỹ và châu Âu, ngành cao su Việt Nam buộc phải vượt qua những rào cản sinh thái khắt khe như Quy định chống phá rừng (EUDR).
Hiện nay, việc sở hữu các chứng chỉ quản lý rừng bền vững quốc tế không còn là lợi thế cạnh tranh, mà đã trở thành điều kiện xuất khẩu bắt buộc. Các nhà nhập khẩu tiêu chuẩn cao yêu cầu truy xuất nguồn gốc minh bạch đến từng lô mủ, buộc doanh nghiệp phải cam kết bảo vệ đa dạng sinh học và tuyệt đối không xâm lấn rừng tự nhiên để có thể bám trụ lại chuỗi cung ứng toàn cầu.











