Ngành cơ khí Việt Nam: Cần chiến lược mới để vươn mình - Kỳ 1 - Cơ khí Việt Nam sau 'Chiến lược 319': Lớn về quy mô, yếu về tự chủ

Vị trí của cơ khí trong đường lối công nghiệp hóa của Đảng đã được xác định từ rất sớm. Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp tháng 4/1962, Đảng ta đã đề ra đường lối và phương hướng lớn nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Báo cáo tại Hội nghị đã trích dẫn câu nói nổi tiếng của V.I. Lênin: "Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí hóa có khả năng cải tạo cả nông nghiệp", nhằm khẳng định tầm quan trọng sống còn của việc xây dựng nền sản xuất lớn hiện đại. Đồng thời xác định: "Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội chính là nền sản xuất cơ khí hóa lớn mạnh trong khắp các ngành kinh tế quốc dân".

Ngành cơ khí Việt Nam lớn lên từ nhận thức đó, Nhà máy Cơ khí Hà Nội được xây dựng với sự giúp đỡ của Liên Xô (hoàn thành cuối năm 1957) có khả năng chế tạo các loại máy công cụ cắt gọt với độ chính xác tới 1/1000 li như máy tiện, máy phay, máy bào, máy khoan. Mỗi năm, nhà máy đưa ra thị trường khoảng 600 chiếc máy cái.

Trong những năm chiến tranh phá hoại, từ tháng 6/1966, gần 1.500 tấn phương tiện, thiết bị của nhà máy được di chuyển an toàn đến 16 địa điểm ở Hà Bắc để tiếp tục sản xuất. Giữa bom đạn chiến tranh, những người thợ cơ khí vẫn giữ máy, giữ xưởng, giữ nhịp sản xuất. Bởi phía sau mỗi chiếc máy cái là khả năng chế tạo thêm những chiếc máy khác, là năng lực duy trì sản xuất và xây dựng nền công nghiệp tự chủ.

Xưởng cơ khí Lạng Sơn chế tạo vật tư, công cụ sản xuất phục vụ giao thông vận tải, nông lâm nghiệp năm 1962.

Xưởng cơ khí Lạng Sơn chế tạo vật tư, công cụ sản xuất phục vụ giao thông vận tải, nông lâm nghiệp năm 1962.

Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định trong Quyết định số 319/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 15/3/2018, phê duyệt Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 (thay thế Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg) với quan điểm xuyên suốt: "Cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững, nâng cao tính độc lập, tự chủ".

Bước vào giai đoạn phát triển mới, Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, do Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành ngày 2/4/2026, xác định nhiệm vụ "tập trung nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh một số ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, hạt nhân, cơ khí chế tạo, luyện kim, vận tải đường sắt, đóng tàu, vật liệu mới, hóa chất, công nghệ số, sinh học, công nghiệp phụ trợ gắn với tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu".

Sự phát triển của ngành cơ khí gắn liền với những yêu cầu ngày càng cao về trình độ công nghệ, năng lực chế tạo và khả năng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Quy mô sản xuất và kim ngạch xuất khẩu là những thước đo quan trọng, song năng lực tự chủ phải được thể hiện qua khả năng thiết kế, chế tạo, tích hợp công nghệ và đảm nhận các công đoạn có giá trị gia tăng cao. Đặt trong yêu cầu này, giai đoạn 2018-2025 ghi nhận những bước tiến rõ nét về quy mô sản xuất và xuất khẩu, đồng thời bộc lộ khoảng cách giữa mục tiêu chiến lược và năng lực thực tế của ngành cơ khí Việt Nam.

Sau 7 năm triển khai Chiến lược theo Quyết định số 319, ngành cơ khí Việt Nam ghi nhận bước tăng trưởng rõ nét về quy mô sản xuất. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Cơ khí, Bộ Công Thương, giá trị sản xuất toàn ngành giai đoạn 2018-2025 tăng gần gấp đôi, với tốc độ tăng bình quân khoảng 10,3%/năm. Cả nước có khoảng 43.601 cơ sở sản xuất cơ khí, tạo việc làm cho hơn 1,57 triệu lao động.

Hoạt động xuất khẩu cũng ghi nhận bước tiến lớn, giá trị xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng tăng từ 384.700 tỷ đồng năm 2018 lên 1.557.700 tỷ đồng năm 2025, tương đương hơn 4 lần. Trong cùng giai đoạn, chênh lệch giữa nhập khẩu và xuất khẩu của nhóm hàng này thu hẹp từ khoảng 399.300 tỷ đồng xuống còn 52.300 tỷ đồng.

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 - Viện Nghiên cứu Cơ khí).

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 - Viện Nghiên cứu Cơ khí).

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 - Viện Nghiên cứu Cơ khí).

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 - Viện Nghiên cứu Cơ khí).

Quyết định số 319/QĐ-TTg đặt mục tiêu sản lượng xuất khẩu bằng 35% tổng sản lượng ngành cơ khí vào năm 2020, 40% vào năm 2030 và 45% vào năm 2035. Nếu so sánh giá trị xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng với giá trị sản xuất ngành cơ khí, tỷ lệ năm 2025 đạt khoảng 48,3%.

Tuy nhiên, hai chỉ tiêu chưa hoàn toàn thống nhất về phạm vi thống kê và phương pháp đo lường, vì vậy, tỷ lệ 48,3% chưa đủ cơ sở để kết luận ngành cơ khí đã vượt mục tiêu xuất khẩu năm 2035. Điều có thể khẳng định là năng lực tham gia thị trường quốc tế đã được mở rộng, song mức độ đóng góp thực chất của doanh nghiệp trong nước cần tiếp tục được đánh giá trên cơ sở giá trị gia tăng và khả năng làm chủ công nghệ.

Ở từng phân ngành, một số doanh nghiệp đã tạo dựng được năng lực sản xuất và chế tạo. Đơn cử, ngành sản xuất xe máy và linh kiện đã hình thành hệ thống cung ứng tương đối hoàn chỉnh với khả năng đáp ứng nhu cầu một số nhóm linh kiện trong nước đạt khoảng 85-90%.

Trong lĩnh vực ô tô, THACO có tỷ lệ nội địa hóa đối với xe du lịch lên 50%, xe tải 70%, xe bus trên 70%. Đối với VinFast, tỷ lệ nội địa hóa khoảng 60% trong năm 2025 ở một số dòng sản phẩm. Các mẫu ô tô nhỏ của VinFast hiện đã đạt mức tỷ lệ nội địa hóa lên đến 80%; trong đó, mẫu xe cỡ nhỏ, thiết kế nguồn mở và dễ tùy biến như VinFast VF3 là ví dụ tiêu biểu cho dòng xe đơn giản, dễ nội địa hóa và thay thế phụ tùng.

Ở lĩnh vực thiết bị công nghiệp, LILAMA và Doosan Vina đã tham gia thực hiện các hạng mục, dự án cơ khí quy mô lớn trong ngành năng lượng. PVSHIPYARD ghi dấu ấn với việc chế tạo các giàn khoan Tam Đảo 03, Tam Đảo 05. PTSC từng bước khẳng định năng lực chế tạo, cung cấp và triển khai các công trình cơ khí ngoài khơi.

Những kết quả này cho thấy ngành cơ khí tại Việt Nam đã hình thành năng lực chế tạo nhiều sản phẩm và thiết bị có yêu cầu kỹ thuật cao. Một số doanh nghiệp trong nước đã vượt khỏi phạm vi gia công đơn giản để tham gia những công đoạn phức tạp hơn của chuỗi sản xuất công nghiệp. Tuy nhiên, những thành công riêng lẻ chưa phản ánh đầy đủ năng lực của toàn ngành. Khoảng cách giữa chế tạo một số thiết bị, cụm thiết bị với làm chủ thiết kế tổng thể, tích hợp công nghệ và đảm nhận trọn gói các dự án công nghiệp vẫn còn lớn. Đây cũng là thách thức đặt ra đối với Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam trong giai đoạn tới.

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 - Viện Nghiên cứu Cơ khí).

(Nguồn: Báo cáo xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045 - Viện Nghiên cứu Cơ khí).

Quy mô sản xuất ngành cơ khí tăng nhanh nhưng cơ cấu đóng góp giữa các khu vực kinh tế cho thấy sự phụ thuộc ngày càng lớn vào doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Giai đoạn 2018-2025, giá trị sản xuất toàn ngành tăng 1.599.200 tỷ đồng, trong đó khu vực FDI đóng góp 1.094.600 tỷ đồng, tương đương 68,4%. Như vậy, cứ 10 đồng giá trị sản xuất gia tăng thì gần 7 đồng thuộc khu vực FDI.

Xu hướng này thể hiện rõ qua sự thay đổi về tỷ trọng giá trị sản xuất. Khu vực FDI tăng từ 55% năm 2018 lên 61,6% năm 2025, trong khi khu vực nhà nước giảm từ 2,1% xuống 1,1% và khu vực ngoài nhà nước giảm từ 38,2% xuống 34%. Xét về quy mô tuyệt đối, giá trị sản xuất cơ khí của các khu vực trong nước năm 2025 đạt khoảng 1,69 lần so với năm 2018, thấp hơn mức 2,22 lần của khu vực FDI. Điều này cho thấy sản xuất cơ khí trong nước vẫn mở rộng nhưng tốc độ chưa theo kịp khu vực có vốn đầu tư nước ngoài.

Khoảng cách còn rõ nét hơn trong hoạt động xuất khẩu. Năm 2025, khu vực FDI đạt khoảng 1.450.900 tỷ đồng giá trị xuất khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng, chiếm hơn 93% tổng giá trị xuất khẩu nhóm hàng này. Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước đạt khoảng 106.800 tỷ đồng. Cơ cấu trên phản ánh vai trò chi phối của khu vực FDI trong sản xuất và xuất khẩu cơ khí, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần và gia tăng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào các chuỗi sản xuất có giá trị cao.

Cán cân thương mại nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng cũng ghi nhận sự chuyển dịch rõ nét giữa các khu vực kinh tế. Năm 2018, khu vực FDI nhập siêu 98.500 tỷ đồng nhưng đến năm 2025 đã chuyển sang xuất siêu 237.700 tỷ đồng. Ngược lại, khu vực kinh tế trong nước vẫn nhập siêu gần 290.000 tỷ đồng, chỉ giảm nhẹ so với mức 300.800 tỷ đồng của năm 2018.

Diễn biến trên cho thấy khu vực FDI giữ vai trò chủ yếu trong việc cải thiện cán cân thương mại của nhóm hàng này. Trong khi đó, năng lực xuất khẩu của doanh nghiệp trong nước dù được cải thiện vẫn còn khoảng cách lớn so với khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, phản ánh sự chênh lệch về quy mô sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường và năng lực tham gia chuỗi cung ứng quốc tế.

Đối chiếu giá trị xuất khẩu nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng với tổng giá trị sản xuất cơ khí của từng khu vực, tỷ số tương ứng năm 2025 đạt khoảng 8,6% đối với khu vực trong nước và 73% đối với khu vực FDI. Tuy nhiên, do phạm vi thống kê của hai chỉ tiêu chưa hoàn toàn đồng nhất, các tỷ số này chỉ mang tính tham khảo, chưa phản ánh chính xác tỷ lệ sản phẩm cơ khí được xuất khẩu của từng khu vực.

Vấn đề đặt ra là chất lượng tăng trưởng và năng lực tự chủ của ngành cơ khí Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu gia tăng phản ánh khả năng tham gia thị trường quốc tế ngày càng lớn nhưng chưa thể hiện đầy đủ phần giá trị gia tăng được tạo ra trong nước, trình độ làm chủ thiết kế, công nghệ và năng lực tổ chức chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Việt Nam. Một ngành công nghiệp có thể đạt quy mô sản xuất và xuất khẩu lớn nhưng năng lực tự chủ vẫn hạn chế nếu các khâu có giá trị cao tiếp tục phụ thuộc vào doanh nghiệp nước ngoài.

Theo đánh giá của TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, hoạt động xuất khẩu cơ khí đã có bước tiến về quy mô nhưng chất lượng và mức độ làm chủ của doanh nghiệp trong nước chưa tương xứng. Khoảng cách đó càng bộc lộ rõ khi xem xét khả năng cung ứng máy móc, thiết bị và linh kiện cho nhu cầu sản xuất, đầu tư tại thị trường nội địa.

Vì sao quy mô sản xuất tăng gần gấp đôi nhưng năng lực tự chủ của ngành cơ khí Việt Nam chưa có bước chuyển tương xứng? Câu trả lời nằm ở những hạn chế trong thiết kế chính sách, tổ chức thực hiện và khả năng huy động nguồn lực đầu tư, đặc biệt là cơ chế tạo thị trường để doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực công nghệ.

Qua đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 319/QĐ-TTg, các chuyên gia cho rằng, hạn chế trong thiết kế Chiến lược là nhiều mục tiêu phát triển còn mang tính định tính, thiếu chỉ tiêu cụ thể cho mốc năm 2025 và cơ chế theo dõi, đánh giá kết quả. Những nội dung liên quan trực tiếp đến chất lượng phát triển như khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa, tỷ lệ giá trị sản xuất trong nước, số doanh nghiệp có năng lực dẫn dắt, khả năng đảm nhận vai trò tổng thầu và trình độ công nghệ chưa được lượng hóa bằng hệ thống tiêu chí và phương pháp đo lường thống nhất.

Quyết định 319 đặt mục tiêu đến năm 2035 ngành cơ khí cơ bản đáp ứng nhu cầu sản phẩm của thị trường trong nước, song chưa xác định tỷ lệ đáp ứng chung hoặc bộ tiêu chí cụ thể để đánh giá mức độ hoàn thành. Trong khi đó, các mục tiêu về xuất khẩu được lượng hóa theo tỷ lệ sản lượng xuất khẩu trên tổng sản lượng ngành cơ khí, lần lượt đạt 35% vào năm 2020, 40% vào năm 2030 và 45% vào năm 2035. Tuy nhiên, việc đối chiếu kết quả thực hiện gặp khó khăn khi chưa có hệ thống dữ liệu đồng nhất về sản lượng xuất khẩu và tổng sản lượng toàn ngành.

Khoảng trống này đặt ra vấn đề về khả năng đo lường hiệu quả chính sách. Một ngành công nghiệp có thể liên tục gia tăng doanh thu, mở rộng sản xuất và xuất khẩu nhưng những chỉ tiêu chưa đủ phản ánh mức độ làm chủ công nghệ và năng lực tự chủ. Điều quan trọng hơn là xác định được bao nhiêu giá trị được tạo ra trong nước, có thêm bao nhiêu doanh nghiệp làm chủ thiết kế, chế tạo thiết bị công nghệ cao và bao nhiêu doanh nghiệp đủ năng lực đảm nhận các gói thầu lớn hoặc trở thành nhà cung cấp cấp cao trong chuỗi sản xuất. Khi mục tiêu thiếu thước đo cụ thể, việc đánh giá kết quả dễ nghiêng về quy mô hoạt động, trong khi những thay đổi mang tính nền tảng về chất lượng phát triển chưa được phản ánh đầy đủ.

Khoảng trống tiếp theo nằm ở việc cụ thể hóa mục tiêu chiến lược thành chương trình, dự án và nguồn lực thực hiện, nhiều nhiệm vụ được lồng ghép trong các chính sách, chương trình hiện có. Cách triển khai này góp phần tận dụng nguồn lực và hạn chế trùng lặp nhưng cũng có thể khiến trách nhiệm thực hiện phân tán, khó xác định kết quả riêng của từng nhiệm vụ.

Đặc biệt, thiếu những chỉ tiêu đầu ra gắn với cơ quan chủ trì, tiến độ và nguồn lực cụ thể, việc giám sát và đánh giá hiệu quả chính sách gặp nhiều khó khăn. Đây là vấn đề cần được xem xét trong quá trình xây dựng chiến lược mới, bởi hiệu quả của một chính sách công nghiệp phụ thuộc rất lớn vào cơ chế tổ chức thực hiện.

Đặc thù của ngành cơ khí là nhu cầu vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi dài và yêu cầu cao về nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm, kiểm định. Để chế tạo một hệ thống thiết bị công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, doanh nghiệp phải đầu tư đồng bộ về máy móc, phần mềm thiết kế, đội ngũ kỹ sư, quy trình công nghệ và hệ thống quản lý chất lượng. Tuy nhiên, khả năng thu hồi vốn phụ thuộc trực tiếp vào thị trường. Nếu thiếu những đơn hàng đủ lớn và ổn định, doanh nghiệp khó mạnh dạn đầu tư vào các công đoạn đòi hỏi nguồn lực lớn nhưng có giá trị gia tăng cao.

Trong khi đó, các công cụ chính sách về tín dụng, khoa học công nghệ, phát triển thị trường và tổ chức đấu thầu chưa tạo được sự gắn kết đủ chặt chẽ để hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp năng lực theo chuỗi. Những dự án đầu tư công nghiệp quy mô lớn cũng chưa được khai thác đầy đủ như một thị trường để doanh nghiệp cơ khí trong nước tích lũy kinh nghiệm, tiếp nhận công nghệ và từng bước tham gia các hạng mục có giá trị cao hơn.

Vấn đề đặt ra là xây dựng cơ chế tổ chức dự án và đấu thầu tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào hoạt động thiết kế, chế tạo và tích hợp hệ thống. Việc mở rộng cơ hội phải dựa trên năng lực thực chất, tiêu chuẩn kỹ thuật, hiệu quả đầu tư, quy định pháp luật và các cam kết quốc tế. Nếu doanh nghiệp trong nước tiếp tục chủ yếu đảm nhận những công đoạn gia công, lắp đặt hoặc cung cấp thiết bị phụ trợ, quá trình tích lũy năng lực thiết kế tổng thể và làm chủ công nghệ sẽ còn gặp nhiều trở ngại.

Về phía doanh nghiệp, TS. Phan Đăng Phong - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cũng lưu ý xu hướng ưu tiên hiệu quả chi phí trước mắt, lựa chọn thiết bị nhập khẩu thay vì đầu tư phát triển mạng lưới nhà cung cấp trong nước. Trong điều kiện cạnh tranh về giá, tiến độ và chất lượng, việc lựa chọn thiết bị nhập khẩu có thể đem lại lợi ích kinh tế cho từng dự án; tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế khuyến khích liên kết và phát triển năng lực cung ứng trong nước, những dự án đầu tư lớn khó tạo được tác động lan tỏa tương xứng đối với ngành cơ khí nội địa.

Do đó, bài toán không đơn thuần nằm ở ưu đãi đầu tư hay hỗ trợ tài chính, vấn đề cốt lõi là hình thành một hệ thống chính sách đủ đồng bộ, kết nối nhu cầu thị trường với năng lực sản xuất, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển doanh nghiệp. Nhà nước tạo lập môi trường chính sách minh bạch, ổn định và cơ chế khuyến khích đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp phải chủ động nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo, quản trị sản xuất và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật. Chính sách hỗ trợ cần được gắn với những kết quả có khả năng kiểm chứng, bảo đảm hiệu quả sử dụng nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh thực chất.

Bước sang giai đoạn 2026-2045, ngành cơ khí Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển mới khi nhu cầu đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục gia tăng.

Bước sang giai đoạn 2026-2045, ngành cơ khí Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển mới khi nhu cầu đầu tư vào các lĩnh vực hạ tầng, năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục gia tăng.

Kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy tầm quan trọng của việc lượng hóa mục tiêu phát triển công nghiệp. Năm 2016, Ấn Độ ban hành Chính sách quốc gia về tư liệu sản xuất (National Capital Goods Policy), đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sản xuất trong nước đáp ứng nhu cầu tư liệu sản xuất từ 60% lên 80% và tăng giá trị sản xuất từ khoảng 230.000 crore rupee trong niên độ 2014-2015 lên 750.000 crore rupee vào năm 2025.

Khi xây dựng chính sách này, Ấn Độ đã nhìn nhận trực diện khoảng cách giữa mục tiêu và thực tế phát triển. Trong giai đoạn trước đó, dù kế hoạch 5 năm đặt mục tiêu tăng trưởng sản xuất tư liệu sản xuất 16,8%/năm, mức tăng thực tế trong 3 năm chỉ đạt khoảng 1,1%/năm. Thị phần xuất khẩu tư liệu sản xuất của Ấn Độ trên thị trường toàn cầu lúc bấy giờ cũng chỉ ở mức khoảng 0,8%.

Những số liệu trên phản ánh thách thức trong thực hiện mục tiêu phát triển công nghiệp, đồng thời cho thấy tầm quan trọng của việc nhận diện đúng năng lực sản xuất, dung lượng thị trường và những điều kiện bảo đảm thực thi chính sách.

Đối với Việt Nam, bài học đặt ra sau b7 năm triển khai Chiến lược theo Quyết định số 319 là yêu cầu chuyển các định hướng phát triển thành mục tiêu có khả năng lượng hóa, theo dõi và kiểm chứng. Chiến lược mới cần xác định rõ các nhóm sản phẩm cơ khí trọng điểm, tỷ lệ giá trị doanh nghiệp trong nước có thể đảm nhận, lộ trình nâng cao năng lực công nghệ và trách nhiệm thực hiện của từng chủ thể.

Quan trọng hơn, những mục tiêu phải được hỗ trợ bằng chương trình hành động, cơ chế huy động nguồn lực, chính sách phát triển thị trường và hệ thống đánh giá kết quả cụ thể. Các dự án công nghiệp lớn cần được xem xét trong mối quan hệ với khả năng hình thành năng lực sản xuất, phát triển nhà cung cấp và nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.

Sau cùng, thành công của một chiến lược phát triển cơ khí phải được chứng minh bằng sự trưởng thành về năng lực công nghệ và vị thế của doanh nghiệp trong nước. Thước đo có ý nghĩa quyết định là số doanh nghiệp Việt Nam đủ sức thiết kế, chế tạo, tích hợp và cung cấp những hệ thống thiết bị công nghiệp mà nền kinh tế lâu nay còn phụ thuộc vào nguồn cung nước ngoài.

Sau 7 năm thực hiện Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, ngành cơ khí Việt Nam đã mở rộng rõ rệt về quy mô sản xuất và khả năng tham gia thị trường quốc tế. Tuy nhiên, những chuyển biến về năng lực thiết kế, chế tạo, làm chủ công nghệ và tích hợp hệ thống vẫn chưa tương xứng với tốc độ tăng trưởng. Đây là khoảng trống lớn mà chiến lược phát triển ngành cơ khí trong giai đoạn mới phải tìm lời giải.

Đúc kết kinh nghiệm từ quá trình thực hiện Chiến lược, ThS. Đinh Viết Hải - Viện Nghiên cứu Cơ khí nhận định: "Kinh nghiệm cho thấy mở rộng quy mô chưa đủ tạo tự chủ; cơ hội thị trường chỉ chuyển thành năng lực khi doanh nghiệp có phần việc, quyền công nghệ và khả năng duy trì đơn hàng".

Do đó, việc xây dựng Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026-2045 là hết sức cần thiết và cấp bách. Chiến lược này không chỉ nhằm phát triển một ngành sản xuất mà còn nhằm tạo dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật cho công nghiệp hóa, nâng cao năng lực tự chủ công nghiệp, tận dụng hiệu quả thị trường đầu tư rất lớn của đất nước trong giai đoạn tới, gia tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu thiết bị, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và từng bước đưa ngành cơ khí trở thành một trong những trụ cột của nền công nghiệp quốc gia.

Trong hai thập niên tới, các dự án lớn về đường sắt, năng lượng, hạ tầng và công nghiệp chế biến, chế tạo được kỳ vọng mở ra thị trường rộng lớn cho ngành cơ khí Việt Nam. Tuy nhiên, quy mô thị trường lớn chưa đồng nghĩa doanh nghiệp trong nước sẽ nắm bắt được cơ hội. Ai sẽ làm chủ thiết kế, chế tạo và tích hợp những hệ thống thiết bị công nghiệp quan trọng? Doanh nghiệp Việt Nam sẽ từng bước đảm nhận các công đoạn có giá trị cao hay tiếp tục chủ yếu tham gia gia công, lắp đặt ngay trên thị trường của mình?

Câu trả lời phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa mục tiêu chiến lược thành cơ chế, chính sách và chương trình hành động cụ thể, gắn cơ hội thị trường với quá trình nâng cao năng lực doanh nghiệp. Thành công của chiến lược mới vì thế sẽ được đo bằng mức độ làm chủ công nghệ, tỷ lệ giá trị nội địa và số doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực đảm nhận các dự án cơ khí lớn.

Bởi thách thức lớn nhất của ngành cơ khí Việt Nam trong giai đoạn tới là biến tiềm năng thị trường thành năng lực sản xuất trong nước, biến những đơn hàng lớn thành cơ hội tích lũy công nghệ và từng bước xác lập vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị công nghiệp.

>>> Bài 2: Cơ khí trong nước phải làm chủ thị trường sân nhà

Lâm Vỹ Sơn - Nguyên Thảo

Nguồn Công Thương: https://congthuong.vn/nganh-co-khi-viet-nam-can-chien-luoc-moi-de-vuon-minh-ky-1-co-khi-viet-nam-sau-chien-luoc-319-lon-ve-quy-mo-yeu-ve-tu-chu-477695.html