Ngành công nghiệp vật liệu cần 'cú hích' để phát triển
Trong bối cảnh nguồn vật liệu khai thác đang gặp nhiều thách thức, việc chuyển mạnh từ khai thác tài nguyên sang công nghiệp chế biến sâu, xây dựng chuỗi giá trị vật liệu quốc gia gắn với phát triển vật liệu xanh là yêu cầu cấp bách, hướng đến thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số gắn với phát triển bền vững.

Đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế, ngành công nghiệp vật liệu đang được chuyển hướng sang “xanh hóa”, thúc đẩy phát triển bền vững. Ảnh: N.Lộc
Phát triển rộng nhưng chưa sâu
Tại buổi làm việc vớiBan Chính sách, chiến lược Trung ương và một số Bộ, ngành Trung ương về định hướng phát triển công nghiệp vật liệu vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, công nghiệp vật liệu không chỉ là ngành cung cấp đầu vào cho sản xuất, mà là điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp mới nổi và công nghiệp tương lai; nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và làm chủ công nghệ trong nước.
Với vai trò quan trọng đó, ngành công nghiệp vật liệu được chú trọng và có những bước phát triển nhất định, một số ngành phát triển nhanh, nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, một số doanh nghiệp đã đầu tư tổ hợp lớn.
Hằng năm, Việt Nam phải nhập khẩu khoảng hơn 50 tỷ USD vật liệu. Nếu được quan tâm đúng mức, có chính sách, cơ chế phát triển phù hợp thì với con số nhập khẩu này, Việt Nam sẽ có một thị trường sản xuất vật liệu công nghiệp nội địa rộng lớn, chưa kể đến thị trường khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, nhìn chung, công nghiệp vật liệu Việt Nam vẫn phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu; nhiều vật liệu then chốt vẫn phụ thuộc nhập khẩu; chế biến sâu còn yếu; có ngành quy mô lớn nhưng phát thải cao, tiêu hao nhiều năng lượng và tài nguyên.
Chưa kể, việc khai thác các vật liệu truyền thống đang gây tác động xấu đến môi trường. Thực tế cho thấy, phần lớn phát thải và tiêu thụ năng lượng tập trung ở lĩnh vực vật liệu xây dựng (VLXD), chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thể nền kinh tế. Do đó, các chuyên gia lĩnh vực vật liệu cho rằng, nếu không tác động được vào khu vực này thì các nỗ lực còn lại sẽ chỉ mang tính cục bộ, hiệu quả không cao.

Cần khuyến khích phát triển vật liệu xây không nung, vật liệu xanh và vật liệu tái chế. Ảnh: N.Lộc

Nguồn phế thải phá dỡ công trình cũng có thể được coi là nguồn tài nguyên để tái sử dụng. Ảnh: N.Lộc
Các ý kiến cũng cho rằng, Việt Nam có nhiều tiềm năng để tái sử dụng vật liệu, với lượng chất thải rắn xây dựng gia tăng nhanh chóng, chiếm khoảng 10-12% tổng chất thải đô thị (khoảng 60.000 tấn/ngày), thậm chí lên đến 20-25% tại các đô thị lớn.
Trong đó, nguồn phế thải phá dỡ công trình cũng có thể được coi là nguồn tài nguyên để tái sử dụng, từ đó giúp giảm phát thải. Tuy nhiên, quá trình này vẫn gặp nhiều rào cản như chất lượng vật liệu tái chế chưa ổn định, thiếu phân loại tại nguồn, chi phí xử lý và vận chuyển cao, cùng với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn chưa đồng bộ…
Đại diện Khoa Vật liệu xây dựng, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho rằng, những rào cản này khiến cho ngành công nghiệp vật liệu của Việt Nam đang trong quá trình phát triển, nhưng chưa thể có đột phá.

Cần tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để sản xuất các vật liệu hiện đại, vật liệu xanh. Ảnh: N.Lộc
Đưa vật liệu xanh vào cuộc sống…
Để ngành công nghiệp vật liệu xây dựng có sự đột phá, cần ưu tiên đưa vật liệu xanh đi vào cuộc sống.
Định hướng đối với ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu nâng cấp các ngành vật liệu truyền thống theo hướng xanh hơn, sạch hơn, công nghệ cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn.
Phát triển doanh nghiệp Việt Nam và hình thành thị trường trong nước cho vật liệu mới, vật liệu xanh, vật liệu chiến lược; hỗ trợ một số doanh nghiệp trong nước có năng lực để trở thành doanh nghiệp dẫn dắt.

Vật liệu thi công các công trình ngày càng theo xu thế hiện đại, trong đó có việc sủ dụng gạch không nung. Ảnh: N.Lộc
Lãnh đạo Bộ Xây dựng cho biết, thực hiện chủ trương của Đảng, đặc biệt là chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, Bộ đang nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển công nghiệp vật liệu Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đồng thời, Bộ sẽ đẩy nhanh việc xây dựng danh mục vật liệu chiến lược quốc gia, trong đó tập trung rà soát, xác định đúng các nhóm vật liệu ưu tiên; trước mắt có thể lựa chọn nhóm ưu tiên gồm: vật liệu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu cho pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu mới, VLXD thế hệ mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu xử lý các vấn đề cấp bách của thị trường VLXD hiện nay. Trước mắt, bảo đảm nguồn cung cát, đá, vật liệu san lấp, xi-măng, thép cho đầu tư công, giao thông, đô thị, năng lượng và nhà ở; công bố giá kịp thời, minh bạch; điều phối liên vùng; thúc đẩy sử dụng vật liệu tái chế, chất thải xây dựng sau xử lý và vật liệu thay thế đạt chuẩn.
Từ góc độ quản lý nhà nước, ông Lê Văn Kế - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ môi trường và Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) - cho biết, Nghị định số 09/2021/NĐ-CP đã tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng cho công tác quản lý nhà nước về VLXD; bước đầu khuyến khích phát triển vật liệu xây không nung, vật liệu xanh và vật liệu tái chế.
Tuy nhiên, theo ông Kế, trước yêu cầu phát triển mới, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 209/2026/NĐ-CP quản lý VLXD có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế cho Nghị định 09/2021/NĐ-CP.
Trong đó, Nghị định bổ sung quy định về đổi mới công nghệ, từng bước loại bỏ công nghệ lạc hậu, thúc đẩy phát triển vật liệu xanh. Đây là những nội dung then chốt nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ tiên tiến, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và giảm tác động môi trường.
Ông Lê Văn Kế cho biết, yêu cầu xanh hóa được cụ thể hóa đến cấp địa phương. Trong đó, các địa phương phải lồng ghép nội dung phát triển vật liệu xanh, đồng thời xây dựng chương trình, lộ trình triển khai rõ ràng để đưa vào kế hoạch quản lý xây dựng của địa phương trong năm.
Từ Nghị định số 209/2026/NĐ-CP - công cụ pháp lý mạnh cho ngành vật liệu, ông Trần Bá Việt - Phó Chủ tịch Hội Bê tông Việt Nam cho rằng, cần sớm có hướng dẫn, trong đó đưa ra các yêu cầu, tiêu chuẩn và số liệu cụ thể để làm căn cứ cho các đơn vị thiết kế, thẩm tra và phê duyệt dự án, cũng như có hình thức khuyến khích việc sử dụng vật liệu mới, hạn chế vật liệu không đạt chuẩn.
“Nếu chỉ dừng ở việc “gắn nhãn xanh” mà không có chế tài, không có tiêu chí định lượng thì rất khó triển khai trong thực tế” - Ông Trần Bá Việt cho biết.


Ngành vật liệu xây dựng và nguyên nhiên vật liệu trực tiếp góp phần xây dựng đô thị xanh. Ảnh: N.Lộc
Đồng quan điểm, nguyên Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Quang Hùng cho rằng, cần tiến hành chuẩn hóa các loại vật liệu xanh, đi kèm với hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng.
“Việc dán nhãn vật liệu xanh hiện do nhiều tổ chức thực hiện với tiêu chí chưa thống nhất, dẫn đến thiếu đồng bộ và gây khó khăn cho thị trường. Vì vậy, cần xây dựng một bộ tiêu chí chung, minh bạch, rõ tiêu chí “xanh” và cách thức đánh giá, kiểm chứng các tiêu chí đó” - ông Hùng thông tin.
Các chuyên gia cũng đề nghị, để vật liệu xanh thực sự đi vào cuộc sống, cần có các cơ chế, chính sách hỗ trợ cụ thể từ Nhà nước, như ưu tiên sử dụng trong các công trình đầu tư công, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện khung chính sách phù hợp với điều kiện Việt Nam.
“Các dự án, sản phẩm đáp ứng tiêu chí tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường phải được ưu tiên, nhất là trong các công trình sử dụng vốn Nhà nước” - lãnh đạo Viện Vật liệu xây dựng cho biết./.











