Ngành gỗ xanh hóa, mở rộng xuất khẩu

Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đặt ra yêu cầu mới về nguồn gốc nguyên liệu và tính minh bạch của chuỗi cung ứng.

Công nhân sản xuất tại Công ty Hoàng Tân Hòa (phường Long Bình). Ảnh: Vương Thế

Công nhân sản xuất tại Công ty Hoàng Tân Hòa (phường Long Bình). Ảnh: Vương Thế

Với ngành chế biến gỗ xuất khẩu, việc đáp ứng quy định này không chỉ nhằm giữ thị trường mà còn thúc đẩy doanh nghiệp (DN) đổi mới công nghệ, phát triển vùng nguyên liệu bền vững và nâng sức cạnh tranh.

Minh bạch nguồn gốc để giữ đơn hàng

Đối với DN chế biến gỗ xuất khẩu, EUDR không đơn thuần là yêu cầu bổ sung giấy tờ mà tác động trực tiếp đến khâu thu mua nguyên liệu, quản trị sản xuất và khả năng duy trì đơn hàng. Khi khách hàng yêu cầu chứng minh nguồn gốc gỗ đến tận khu vực khai thác, một mắt xích thiếu thông tin có thể ảnh hưởng đến cả lô hàng.

Đây là thách thức đáng chú ý đối với nhiều DN sản xuất đồ gỗ, nội thất phục vụ thị trường quốc tế. Theo EUDR, sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh phải chứng minh không liên quan đến phá rừng sau ngày 31-12-2020, được sản xuất phù hợp với pháp luật có liên quan của nước sản xuất và đáp ứng yêu cầu thẩm định. Dữ liệu về vị trí địa lý vùng nguyên liệu là căn cứ quan trọng để xác minh nguồn gốc.

Ông Huỳnh Thanh Vạn, Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần S Furniture (Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng: Khó khăn lớn của DN nằm ở chuỗi cung ứng qua nhiều khâu trung gian. Thông tin về vùng trồng, khu vực khai thác và hồ sơ nguồn gốc có thể không được chuyển giao đầy đủ. DN chế biến cần kiểm soát đầu vào nhưng không phải lúc nào cũng có điều kiện xác minh dữ liệu từ đầu chuỗi. Nếu không chứng minh được nguồn gốc theo yêu cầu của khách hàng, nguy cơ gián đoạn hoặc mất đơn hàng là hiện hữu.

Là đơn vị tư vấn, cung cấp các giải pháp cho lĩnh vực sản xuất, ông Nguyễn Công Ấn, Giám đốc Công ty cổ phần Eco Technology 2A (phường Trấn Biên) nhấn mạnh đến việc ứng dụng công nghệ là điều kiện quan trọng để DN xuất khẩu thích ứng với EUDR. Trong đó, DN sản xuất gỗ phải xác định vị trí địa lý vùng nguyên liệu, đối chiếu dữ liệu với bản đồ rừng, lưu trữ thông tin và theo dõi chuỗi cung ứng. Việc này làm tăng chi phí, nhất là với DN và nông hộ nhỏ.

Tiến sĩ Trương Tất Đơ, chuyên gia của Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng: DN cần phân biệt cơ sở dữ liệu vùng trồng với hệ thống truy xuất nguồn gốc. Cơ sở dữ liệu vùng trồng ghi nhận thông tin nền tảng về khu đất như: vị trí, ranh giới, mã lô và hồ sơ pháp lý. Trong khi đó, hệ thống truy xuất theo dõi hành trình nguyên liệu từ khai thác, vận chuyển, sơ chế đến chế biến và xuất khẩu. 2 hệ thống phải liên kết để đối chiếu nguồn nguyên liệu với từng lô hàng thành phẩm.

Liên kết vùng nguyên liệu và thúc đẩy sản xuất xanh

Khó khăn của ngành gỗ không chỉ nằm ở công nghệ mà còn ở chất lượng dữ liệu và sự phối hợp giữa các mắt xích cung ứng. Hồ sơ đất đai chưa đầy đủ, thông tin ranh giới chưa thống nhất hoặc chứng từ không được chuyển giao xuyên suốt có thể làm tăng chi phí tuân thủ. Vì vậy, đầu tư phần mềm sẽ không giải quyết tận gốc nếu quy trình thu mua và quản lý nguyên liệu chưa được chuẩn hóa.

Công nhân sản xuất tại Công ty Hoàng Tân Hòa (phường Long Bình).

Công nhân sản xuất tại Công ty Hoàng Tân Hòa (phường Long Bình).

Đồng Nai cần thúc đẩy liên kết giữa DN chế biến với chủ rừng, hộ trồng rừng, cơ sở sơ chế và đơn vị thu mua. Việc xác định tọa độ vùng nguyên liệu, rà soát hồ sơ pháp lý, đối chiếu bản đồ rừng và lưu chứng từ cần được thực hiện từ đầu chuỗi. Mã số vùng trồng và các chứng nhận FSC (các chứng chỉ do Hội đồng Quản lý rừng (Forest Stewardship Council, viết tắt là FSC) cấp nhằm duy trì và đảm bảo một hệ thống quản lý rừng bền vững có trách nhiệm) hoặc PEFC (hệ thống chứng nhận quản lý rừng bền vững lớn nhất thế giới) hỗ trợ chuẩn hóa nguồn cung nhưng không thay thế nghĩa vụ thẩm định EUDR.

Về phía DN, cần rà soát sản phẩm thuộc phạm vi quy định, phân loại nhà cung cấp và xác định vùng nguyên liệu còn thiếu dữ liệu. Tiếp đó là hoàn thiện hồ sơ, quản lý mã lô và xây dựng quy trình đối chiếu nguyên liệu với thành phẩm. Cách làm theo từng bước giúp tránh đầu tư công nghệ dàn trải.

Về phía Hiệp hội Gỗ và Thủ công mỹ nghệ Đồng Nai, ông Nguyễn Phương, Chủ tịch Hiệp hội cho hay: Hiệp hội sẽ tiếp tục hỗ trợ DN, nhất là đơn vị vừa và nhỏ, thông qua tập huấn, hướng dẫn hồ sơ và kết nối thông tin vùng nguyên liệu. DN cũng cần theo dõi hướng dẫn mới của EU, bởi nghĩa vụ cụ thể phụ thuộc vào loại sản phẩm, vai trò của DN và quy định đang có hiệu lực.

Việc đáp ứng EUDR mới là một phần của lộ trình xanh hóa. DN cần quan tâm thêm đến tiết kiệm năng lượng, giảm hao hụt nguyên liệu, cải tiến công nghệ sấy, tận dụng phụ phẩm và kiểm soát chất thải. Các khoản đầu tư xanh cần được tính toán theo lộ trình để vừa đáp ứng yêu cầu môi trường vừa bảo đảm hiệu quả sản xuất và khả năng cạnh tranh về giá. Khi DN, nhà cung cấp và cơ quan quản lý cùng chuẩn hóa chuỗi cung ứng, EUDR có thể trở thành động lực thúc đẩy ngành gỗ chuyển sang phương thức sản xuất minh bạch, tiết kiệm tài nguyên và bền vững hơn.

Theo lộ trình hiện hành, EUDR dự kiến áp dụng từ ngày 30-12-2026 đối với DN lớn và vừa; phần lớn DN siêu nhỏ, nhỏ áp dụng từ ngày 30-6-2027, tùy nhóm đối tượng và phạm vi nghĩa vụ. Việt Nam được Liên minh châu Âu (EU) xếp vào nhóm rủi ro thấp, nhưng điều này không miễn nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc và thẩm định của DN.

 Vương Thế

Nguồn Đồng Nai: https://baodongnai.com.vn/kinh-te/202610/nganh-go-xanh-hoa-mo-rong-xuat-khau-e815c93/