Ngành tôm trước áp lực chất lượng giống và bài toán tăng trưởng
Xuất khẩu tôm đạt gần 2 tỷ USD sau 5 tháng nhưng ngành tôm nước lợ vẫn đối mặt nhiều thách thức về chất lượng giống, dịch bệnh và chi phí sản xuất, đòi hỏi giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ngày 5/6, tại phường Ninh Chử (tỉnh Khánh Hòa), Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức Hội thảo “Quản lý sức khỏe và nâng cao chất lượng giống tôm nước lợ tại Việt Nam” nhằm phân tích các thách thức, nguyên nhân dẫn đến những bất lợi của ngành thủy sản, nhất là vấn đề nuôi tôm nước lợ.
Qua đó, các ý kiến tại hội thảo cùng tìm giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong sản xuất, cung ứng giống tôm nước lợ, góp phần triển khai thực hiện hiệu quả Kế hoạch quốc gia phòng, chống một số dịch bệnh nguy hiểm trên thủy sản nuôi giai đoạn 2021 - 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 434/QĐ-TTg ngày 24/3/2021.
*Khẳng định vị thế
Theo đánh giá của Cục Thủy sản và Kiểm ngư, thủy sản là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng góp lớn cho tăng trưởng nông nghiệp, xuất khẩu, phát triển kinh tế nông thôn và bảo đảm sinh kế cho người dân ven biển, ven sông, vùng đồng bằng.
Trong cơ cấu ngành thủy sản, nuôi trồng thủy sản ngày càng giữ vai trò chủ đạo, phù hợp với định hướng giảm áp lực khai thác tự nhiên, phát triển sản xuất bền vững, có kiểm soát và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, trong kết quả tích cực trên, tôm nước lợ có sự đóng góp không nhỏ và tiếp tục khẳng định là ngành hàng xuất khẩu chủ lực, có giá trị kinh tế cao, tạo sinh kế bền vững cho người dân tại nhiều địa phương ven biển.
Đến năm 2025, sản xuất tôm nước lợ tiếp tục cho thấy sự tăng trưởng tích cực về quy mô, với diện tích nuôi ước đạt khoảng 750 nghìn ha, sản lượng đạt khoảng 1,29 triệu tấn. Giai đoạn 2021 - 2025, ngành tôm nước lợ tiếp tục dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng thâm canh, siêu thâm canh, nuôi công nghệ cao, nuôi nhiều giai đoạn, nuôi an toàn sinh học và liên kết theo chuỗi nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.
Diện tích nuôi tôm nước lợ lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 đạt trên 658.759 ha, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2025; sản lượng thu hoạch ước đạt 447.752 tấn, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm 2025; kim ngạch xuất khẩu đạt gần 2 tỷ USD. Trong cơ cấu sản lượng, tôm thẻ chân trắng giữ vai trò ngày càng lớn, tăng từ 665,8 nghìn tấn năm 2021 lên 994,4 nghìn tấn năm 2025.
Tôm sú tăng chậm nhưng vẫn duy trì vai trò quan trọng, nhất là trong các mô hình quảng canh, quảng canh cải tiến, tôm - lúa, tôm - rừng và nuôi sinh thái tại vùng ven biển, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long - vùng sản xuất tôm nước lợ trọng điểm của cả nước, chiếm 96,1% diện tích và 92,7% sản lượng tôm.
Thời gian qua, ngành tôm nước lợ đang bắt đầu dịch chuyển mạnh mẽ theo hướng thâm canh, siêu thâm canh, nuôi công nghệ cao, nuôi nhiều giai đoạn, nuôi an toàn sinh học và liên kết theo chuỗi… Qua đó từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, tạo thế cạnh tranh, tạo ra giá trị gia tăng cao.
*Đối diện thách thức
Theo phân tích của lãnh đạo Hiệp hội tôm Việt Nam, song song với kết quả tích cực trên, ngành tôm cũng đang đối mặt với nhiều thách thức như giá thành sản xuất cao, dịch bệnh phức tạp, áp lực môi trường vùng nuôi, cạnh tranh từ các nước sản xuất tôm lớn và yêu cầu ngày càng khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, an toàn dịch bệnh, giảm phát thải và trách nhiệm môi trường.
Trong bối cảnh đó, chất lượng con giống vẫn là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả nuôi. Giống là khâu đầu vào có vai trò đặc biệt quan trọng trong chuỗi giá trị tôm nước lợ, tác động trực tiếp đến tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng, năng suất, chi phí sản xuất và hiệu quả kinh tế của người nuôi.
Phó Giáo sư - Tiến sĩ Võ Văn Nha, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam cho biết, mặc dù sản xuất giống tôm nước lợ của Việt Nam cơ bản đáp ứng nhu cầu về số lượng nhưng chất lượng giống vẫn chưa đồng đều giữa các cơ sở, vùng sản xuất và từng lô giống. Tồn tại về chất lượng giống hiện nay không chỉ nằm ở khâu sản xuất giống, mà còn liên quan đến quản lý hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, lựa chọn giống của người nuôi và cơ chế thị trường.
Hiện nay, tôm bố mẹ vẫn là “điểm nghẽn” lớn của hệ thống sản xuất giống tôm nước lợ. Năng lực chọn giống, gia hóa và sản xuất tôm bố mẹ trong nước chưa đáp ứng nhu cầu, phụ thuộc vào nhập khẩu là chính, nguy cơ phát sinh rủi ro về nguồn cung, giá cả, kiểm dịch, mầm bệnh và khả năng chủ động chọn giống phù hợp với điều kiện nuôi trong nước.
Đến năm 2025, cả nước chỉ có 83 cơ sở được chứng nhận an toàn dịch bệnh đối với tôm nước lợ, trong khi tổng số cơ sở sản xuất, ương dưỡng giống tôm nước lợ khoảng 1.910 cơ sở. Điều đó cho thấy an toàn dịch bệnh mới tập trung ở một số cơ sở có điều kiện tốt, chưa trở thành mặt bằng chung của toàn hệ thống.
Giám đốc Công ty Thủy sản Lê Văn Quê (xã Vĩnh Hải) - Chủ tịch Hiệp hội giống thủy sản Khánh Hòa cho biết, ngoài giống ra, tồn tại về an toàn sinh học và dịch bệnh vẫn còn là vấn đề nan giải.
Bởi hiện nay việc quản lý dữ liệu và truy xuất nguồn gốc chưa cao, độ bao phủ chứng nhận an toàn dịch bệnh còn thấp, an toàn sinh học tại cơ sở chưa đồng đều, giám sát dịch bệnh chưa bao phủ toàn chuỗi giống, kiểm dịch, vận chuyển và trung chuyển giống liên tỉnh còn tiềm ẩn nguy cơ phát tán mầm bệnh.
Không những thế, vấn đề hạ tầng vùng nuôi, hệ thống xử lý nước thải chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Đây là những nội dung cần được ưu tiên khắc phục để nâng cao sức khỏe giống và giảm rủi ro dịch bệnh trong nuôi tôm nước lợ.
*Tháo gỡ rủi ro
Theo đánh giá của các doanh nghiệp nuôi tôm nước lợ ở Đồng bằng sông Cửu Long, khó khăn trong sản xuất, cung ứng giống tôm nước lợ nằm ở 4 vấn đề chính gồm chất lượng giống; lượng tôm bố mẹ cần đáp ứng; an toàn sinh học và dịch bệnh; hạ tầng vùng sản xuất giống.

Mô hình nuôi tôm hùm, cá biển trong lồng bè áp dụng công nghệ mới tại xã Ninh Hải (Khánh Hòa) không chỉ cung cấp môi trường canh tác sạch sẽ, an toàn mà còn giảm áp lực lên vùng biển ven bờ, giúp hạn chế ô nhiễm và xung đột sinh thái. Ảnh Nguyễn Thành - TTXVN
Việc khắc phục những tồn tại trên để giảm rủi ro, nâng cao chất lượng và hiệu quả sản xuất không chỉ là trách nhiệm của người nuôi, mà còn phải có sự chung tay hỗ trợ, tháo gỡ từ cơ quan quản lý nhà nước, cụ thể là Cục Thủy sản và Kiểm ngư, các Cục thuộc Bộ và chính quyền các địa phương.
Ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết, thời gian qua ngành thủy sản cũng đang tăng cường các biện pháp quan trắc môi trường, kiểm soát chất lượng giống, kiểm dịch, an toàn sinh học, phòng chống dịch bệnh và kiểm soát an toàn thực phẩm. Do đó, thời gian tới sẽ chuyển mạnh từ quản lý giống theo số lượng sang quản lý theo chất lượng, hồ sơ nguồn gốc, khả năng truy xuất và hiệu quả sau thả nuôi.
Nhằm bảo đảm kế hoạch tăng trưởng và xuất khẩu bền vững nghề tôm nước lợ, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề nghị các địa phương ven biển tiếp tục tăng cường năng lực quản lý, rà soát, tính toán lại việc quy hoạch vùng nuôi. Đặc biệt, giải pháp trọng tâm giai đoạn tới là cần chuẩn hóa điều kiện cơ sở, nâng cấp hạ tầng vùng giống, mở rộng vùng an toàn dịch bệnh, kiểm soát kỹ việc lưu thông giống, số hóa truy xuất nguồn gốc…
Cục Thủy sản và Kiểm ngư cũng khuyến khích doanh nghiệp tập trung đầu tư bài bản, có hệ thống theo quy trình tuần hoàn, khép kín, tránh để xảy ra ô nhiễm môi trường, dịch bệnh. Đồng thời cần minh bạch trong sản xuất, vận chuyển, có kỹ năng điều tiết sản xuất theo nhu cầu thị trường.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và số hóa vào quản lý và sản xuất, nâng cao chất lượng tôm bố mẹ, phát triển thị trường giống chất lượng cao. Đây là điều kiện để chuyển ngành giống tôm nước lợ từ phát triển về số lượng sang phát triển theo chiều sâu, an toàn, minh bạch để cùng nâng cao năng lực, đưa ngành tôm bứt phá, phát triển bền vững.










