Ngày Văn hóa Việt Nam - điểm hẹn hằng năm của tinh thần dân tộc
Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tổ chức 'Ngày Văn hóa Việt Nam' giai đoạn 2026–2030 là một quyết định có ý nghĩa vượt ra ngoài khuôn khổ của một hoạt động kỷ niệm. Khi ngày 24/11 hằng năm được xác lập là Ngày Văn hóa Việt Nam, điều được khẳng định không chỉ là nhu cầu tôn vinh truyền thống, mà còn là yêu cầu đặt văn hóa vào trung tâm của phát triển đất nước.

Trong một thế giới đang biến động sâu sắc, nơi cạnh tranh không chỉ diễn ra bằng kinh tế, công nghệ hay sức mạnh quân sự, mà còn bằng bản sắc, hình ảnh quốc gia, năng lực sáng tạo và sức hấp dẫn văn hóa, Ngày Văn hóa Việt Nam cần được nhìn nhận như một điểm hẹn tinh thần của dân tộc, đồng thời là một chương trình hành động để biến văn hóa thành sức mạnh nội sinh, sức mạnh mềm và năng lực phát triển bền vững của quốc gia.

Văn hóa là điểm tựa của niềm tin và bản lĩnh quốc gia
Thế giới hôm nay đang chứng kiến những biến động chưa từng có. Xung đột địa chính trị kéo dài, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, đứt gãy chuỗi cung ứng, khủng hoảng khí hậu, bất bình đẳng xã hội, sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, làn sóng thông tin sai lệch và sự phân mảnh niềm tin đang đặt các quốc gia trước những thách thức rất mới. Trong bối cảnh ấy, sức mạnh của một đất nước không chỉ được đo bằng quy mô GDP, tốc độ tăng trưởng, năng lực công nghệ hay hạ tầng vật chất, mà còn được đo bằng khả năng giữ vững bản sắc, củng cố niềm tin xã hội, nuôi dưỡng sự đồng thuận và tạo ra sức hấp dẫn đối với thế giới.
Chính ở điểm này, văn hóa trở thành một nguồn lực đặc biệt. Hàn Quốc không chỉ vươn ra thế giới bằng công nghệ, mà còn bằng K-pop, điện ảnh, ẩm thực, thời trang và một chiến lược công nghiệp văn hóa bài bản. Nhật Bản giữ được sức hấp dẫn lâu dài nhờ biết kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa trà đạo, manga, anime, thiết kế, công nghệ và tinh thần kỷ luật xã hội. Nhiều quốc gia nhỏ vẫn tạo được vị thế lớn vì biết kể câu chuyện của mình với thế giới bằng ngôn ngữ văn hóa. Điều đó cho thấy, trong thời đại toàn cầu hóa và số hóa, quốc gia nào biết biến bản sắc thành sáng tạo, biến di sản thành sản phẩm, biến ký ức thành câu chuyện, biến văn hóa thành thương hiệu, quốc gia ấy có thêm một năng lực cạnh tranh rất bền sâu.

Triển lãm và Workshop "Họa Sắc Kinh Kỳ - bước vào thế giới tranh Hàng Trống" là một hành trình chạm, người trẻ tiếp nối mạch nguồn di sản, đưa người xem kết nối sâu hơn với di sản bằng cách kể những câu chuyện lịch sử, ý nghĩa từng bức tranh thông qua triển lãm và trải nghiệm do nhóm sinh viên Khoa Truyền thông và Văn hóa Đối ngoại, Học viện Ngoại giao thực hiện từ 2 -3/5/2026 tại Hội quán Phúc Kiến (phường Hoàn Kiếm, Hà Nội). Ảnh: Khánh Hòa - TTXVN
Việt Nam có đầy đủ điều kiện để làm điều đó. Chúng ta có một lịch sử lâu dài, một nền văn hóa đa dạng, một kho tàng di sản phong phú, một đời sống nghệ thuật giàu bản sắc, một nền ẩm thực hấp dẫn, một cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rộng lớn, một thế hệ trẻ ngày càng sáng tạo và tự tin hơn. Nhưng tiềm năng văn hóa chỉ trở thành sức mạnh khi được tổ chức bằng tư duy phát triển, bằng thể chế phù hợp, bằng nguồn lực đủ mạnh và bằng sự tham gia thực chất của nhân dân.
Vì vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam không nên được hiểu đơn giản là một ngày để tổ chức sự kiện, treo băng rôn, biểu diễn nghệ thuật hay tổng kết thành tích. Ngày ấy phải là dịp để mỗi người Việt Nam tự hỏi: chúng ta đã làm gì để văn hóa thấm sâu hơn vào đời sống? Chúng ta đã gìn giữ tiếng Việt, nếp nhà, văn hóa đọc, di sản, lễ hội, làng nghề, ký ức cộng đồng ra sao? Chúng ta đã xây dựng môi trường văn hóa trong gia đình, nhà trường, công sở, khu dân cư và không gian mạng như thế nào? Chúng ta đã biến văn hóa thành sức mạnh của con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới đến đâu?
Trong các phát biểu gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu phải có tư duy mới trước những vấn đề mới, phải đặt con người ở trung tâm, phải củng cố lòng tin và năng lực chống chịu xã hội trong một thế giới đầy bất định. Tinh thần ấy rất gần với ý nghĩa sâu xa của Ngày Văn hóa Việt Nam. Bởi văn hóa, xét đến cùng, chính là nền tảng của con người; là nơi hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống, lòng yêu nước, ý thức cộng đồng và khát vọng cống hiến. Một đất nước muốn đi xa không thể chỉ dựa vào tài nguyên, vốn đầu tư hay công nghệ nhập khẩu, mà phải dựa vào phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh và sức sáng tạo của con người Việt Nam.

Chương trình nghệ thuật “Sấm Đọi Tam – Vang hồn Việt”, do nhóm sinh viên Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức ngày 1/6/2026, tại Hà Nội tái hiện hành trình của tiếng trống Đọi Tam qua dòng chảy lịch sử dân tộc. Chương trình không chỉ tôn vinh nghề làm trống truyền thống hơn 1000 năm tuổi mà còn góp phần lan tỏa giá trị di sản đến gần hơn với thế hệ trẻ. Ảnh: Khánh Hòa - TTXVN
Điểm quan trọng của Kế hoạch tổ chức Ngày Văn hóa Việt Nam là xác định nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, bảo tồn, trao truyền văn hóa, vừa là trung tâm thụ hưởng văn hóa. Đây là cách tiếp cận đúng và rất cần thiết. Văn hóa không thể chỉ do cơ quan quản lý "triển khai" từ trên xuống. Văn hóa sống trong nhân dân, được gìn giữ bởi nhân dân, được làm mới bởi nhân dân và chỉ có ý nghĩa khi quay trở lại phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân. Một làn điệu dân ca còn vang lên trong cộng đồng, một nghề thủ công còn được truyền cho lớp trẻ, một thư viện còn sáng đèn, một di tích còn được chăm sóc, một lễ hội còn giữ được sự trang nghiêm, một gia đình còn giữ nếp đọc sách, một khu dân cư còn coi trọng nghĩa tình – tất cả đều là những biểu hiện cụ thể của sức sống văn hóa.
Bởi vậy, Ngày Văn hóa Việt Nam phải là ngày của toàn dân, chứ không chỉ là ngày của ngành văn hóa. Đó là ngày của nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà giáo, nhà báo, trí thức, doanh nhân, học sinh, sinh viên, người lao động, đồng bào các dân tộc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Mỗi người, bằng cách riêng của mình, đều có thể góp phần làm giàu thêm văn hóa Việt Nam: giữ gìn tiếng Việt, đọc một cuốn sách hay, ứng xử tử tế trên mạng, tôn trọng di sản, bảo vệ môi trường sống, sáng tạo một sản phẩm có bản sắc, kể một câu chuyện đẹp về đất nước, hoặc đơn giản là sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng.
Từ tôn vinh đến kiến tạo: để văn hóa trở thành năng lực phát triển quốc gia
Một kế hoạch tốt mới chỉ là điểm khởi đầu. Điều quyết định là cách chúng ta tổ chức thực hiện. Nếu Ngày Văn hóa Việt Nam chỉ dừng ở hoạt động phong trào, rộ lên trong một vài ngày rồi lắng xuống, thì ý nghĩa của văn bản sẽ bị thu hẹp. Nhưng nếu được triển khai đúng tầm, đây có thể trở thành một cơ chế hành động hằng năm để rà soát, khơi dậy, kết nối và nâng cấp đời sống văn hóa của đất nước.

Chương trình nghệ thuật “Giao thoa đất trời” với điểm nhấn là các tiết mục mang đậm bản sắc văn hóa Việt, được dàn dựng theo hơi thở đương đại, tạo nên sự giao thoa hài hòa giữa truyền thống và hiện đại được nhóm sinh viên Trường Đại học Sân khấu – Điện ảnh Hà Nội tổ chức tại ngày 5/6/2026. Ảnh: Khánh Hòa – TTXVN
Trước hết, cần tránh hành chính hóa văn hóa. Văn hóa không thể chỉ được đo bằng số lượng hội nghị, chương trình, khẩu hiệu hay báo cáo. Văn hóa phải được đo bằng sự chuyển biến trong đời sống: người dân có thêm không gian sinh hoạt văn hóa hay không; trẻ em có thêm cơ hội tiếp cận sách, nghệ thuật, di sản hay không; nghệ nhân có được tôn vinh và hỗ trợ hay không; thiết chế văn hóa cơ sở có hoạt động thực chất hay không; môi trường mạng có văn minh hơn hay không; các sản phẩm văn hóa Việt Nam có hấp dẫn hơn với công chúng trong nước và quốc tế hay không.
Thứ hai, cần gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với văn hóa cơ sở. Một nền văn hóa mạnh không chỉ nằm ở những chương trình lớn, những lễ hội hoành tráng hay các danh hiệu quốc tế, mà bắt đầu từ từng gia đình, trường học, khu dân cư, nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng, di tích, làng nghề. Trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp, cấp cơ sở càng có vai trò quan trọng trong việc đưa chính sách văn hóa đến gần dân hơn. Mỗi xã, phường cần có câu chuyện văn hóa của mình, sản phẩm văn hóa của mình, không gian văn hóa của mình, cách làm phù hợp với đặc điểm của cộng đồng mình.
Thứ ba, cần coi văn hóa đọc và văn hóa số là hai nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Văn hóa đọc giúp con người có chiều sâu, có khả năng suy nghĩ độc lập, có sức đề kháng trước thông tin sai lệch. Văn hóa số giúp dân tộc hiện diện trong môi trường mới, nơi thế hệ trẻ đang sống, học tập, sáng tạo và giao tiếp hằng ngày. Nếu văn hóa Việt Nam không chủ động lên không gian số bằng những sản phẩm hấp dẫn, nhân văn, hiện đại, khoảng trống ấy sẽ bị lấp đầy bởi những nội dung dễ dãi, lệch chuẩn, phản cảm hoặc thuần túy thương mại. Vì vậy, số hóa di sản, phát triển dữ liệu văn hóa, bảo vệ bản quyền số, ứng dụng công nghệ trong bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, khuyến khích người trẻ sáng tạo nội dung văn hóa Việt Nam trên các nền tảng số phải trở thành những nhiệm vụ cụ thể, không thể chậm trễ.
Thứ tư, cần biến di sản thành nguồn lực phát triển nhưng không đánh đổi linh hồn di sản. Di sản không thể chỉ được cất trong tủ kính, nhưng cũng không thể bị thương mại hóa thô bạo. Điều cần thiết là phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa, sản phẩm thủ công, thiết kế sáng tạo, trải nghiệm di sản theo hướng có trách nhiệm, có sự tham gia của cộng đồng và bảo đảm cộng đồng được hưởng lợi. Khi người dân sống được bằng di sản một cách tử tế, họ sẽ có thêm động lực để giữ di sản. Khi di sản được kể bằng ngôn ngữ hiện đại mà vẫn giữ phẩm giá văn hóa, di sản sẽ đi xa hơn trong đời sống đương đại.

Thứ năm, cần gắn Ngày Văn hóa Việt Nam với ngoại giao văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Trong thế giới cạnh tranh hình ảnh hôm nay, mỗi món ăn, bộ phim, cuốn sách, thiết kế, sản phẩm thủ công, lễ hội, làn điệu dân ca, tà áo dài hay câu chuyện về con người Việt Nam đều có thể trở thành một "đại sứ văn hóa". Nhưng muốn văn hóa Việt Nam đi xa, chúng ta không chỉ cần niềm tự hào, mà cần sự chuyên nghiệp: chuyên nghiệp trong sáng tạo, trong bảo vệ bản quyền, trong truyền thông, trong tổ chức thị trường, trong kết nối doanh nghiệp và nghệ sĩ, trong cách kể câu chuyện Việt Nam với thế giới.
Ngày Văn hóa Việt Nam vì vậy không chỉ là lời nhắc nhớ về quá khứ, mà phải là lời hiệu triệu cho tương lai. Đó là ngày để chúng ta tri ân di sản nhưng không ngủ quên trong di sản; khơi dậy tự hào dân tộc nhưng không khép mình trước thế giới; thúc đẩy sáng tạo nhưng không đánh mất căn cước; phát triển kinh tế từ văn hóa nhưng không thương mại hóa bằng mọi giá; bước vào không gian số nhưng vẫn giữ được chủ quyền văn hóa và nhân phẩm con người.

Trong kỷ nguyên mới, văn hóa cần được đặt ở trung tâm của phát triển không phải bằng những lời khẳng định chung chung, mà bằng chính sách cụ thể, thiết chế sống động, nguồn lực tương xứng, cơ chế đánh giá rõ ràng và sự tham gia rộng rãi của nhân dân. Ngày Văn hóa Việt Nam, khi được tổ chức thực chất, sẽ không chỉ là một ngày trong lịch, mà là một điểm hẹn hằng năm của tinh thần dân tộc; nơi chúng ta cùng nhìn lại mình, làm mới mình và tiếp thêm sức mạnh cho hành trình xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, văn minh, nhân văn và giàu bản sắc.
Bài: PGS-TS Bùi Hoài Sơn
Báo: Thể thao và Văn hóa











