Ngày xanh chuyện lành

Hồi ông còn sống, những ngày này sẽ vui rộn ràng. Cái hẻm nhỏ lại dập dìu các cựu chiến binh áo xanh tóc ngả màu thời gian, từ mọi miền Tổ quốc lại tụ tập về đây. Căn nhà nhỏ của hai vợ chồng cựu chiến binh nghi ngút khói nhang, tiếng cười nói rổn rảng, cũng có khi là những khoảng lặng. Thoảng khi có tiếng nấc giữa đêm nhớ bạn.

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Minh họa: HOÀNG ĐẶNG

Những người bạn của họ vẫn còn đâu đó trên khắp các chiến trường. Họ nằm lại trong 81 ngày đêm khói lửa Thành cổ Quảng Trị. Họ mãi mãi ăn Tết trong cuộc chiến mùa xuân Mậu Thân. Họ vẫn hồn xiêu phách lạc ở biên giới Tây Nam. Họ nằm lại với cái tuổi thanh tân xanh màu áo lính.

Hai vợ chồng già về xóm nhỏ ngoằn nghèo này sau hồi giải phóng. Ông người gốc Phú Cường theo lệnh điều động đi R. Bà theo gia đình từ miền Tây ngược lên Vàm Cỏ rồi về Lò Gò. Gặp nhau ở R.

Đi qua cuộc chiến với những trận càn rát rạt. Ông bị thương trong cuộc trận đánh sân bay Thiện Ngôn. Người ta tải ông về lán trong rừng. Một tháng trời bà chăm bẵm. Lửa gần rơm rồi bén.

Mùa bông ngoắt nghẻo năm đó, giữa rừng khộp một chiều biên giới, ông hái chùm hoa vàng rồi ngỏ ý, nếu còn sống sau ngày giang sơn thu về một mối, thì ông nguyện đền nghĩa ơn cho bà. Ông lừng khừng ngại ngùng.

Năm đó ông đã bốn mươi, một vợ hai con. Vợ cũng hy sinh trong trận đánh Phước Long. Hai đứa con cũng đâu đó trên mặt trận Tây Nguyên, giữa trùng điệp núi đồi trong cuộc chiến ở miền đất đỏ Ban Mê.

Ông ôm súng lao mình đi đầu trận đánh sân bay Thiện Ngôn với tâm thế chẳng còn gì để mất. Nhưng rồi run rủi sao lại ở đây, gặp bà và trót lòng thương.

Bà khi ấy mới hai mươi lăm, giữa rừng khộp vẫn đì đùng trái sáng, nghe lời ông kể thì không dưng lòng se thắt. Bà gật đầu gá phận đời cùng ông.

Bà thương cho ông, cho chính mình, cho những người đi vào cuộc chiến với vết thương lòng âm ỉ đau. Bà chỉ nghĩ một điều giản đơn nếu còn sống cùng nhau đến khi nước nhà độc lập, thì đó sẽ là duyên trời. Thời chinh chiến chỉ một lời hẹn mà sống với nhau bạc đầu.

Bà vẫn thờ người vợ đầu cùng hai con trai của ông, nay thêm bài vị của ông và một cái bài vị không tên tuổi. Cái bài vị chung cho những người đồng đội chẳng thể về. Có người tìm thấy xác. Có người hòa lẫn vào đất. Lớp lớp thời gian. Tháng tháng năm năm. Xương cốt hóa phù sa. Đất nở ra cây lá. Đời không quên nhưng chẳng thể tìm thấy.

Ông dặn bà thờ chung, giỗ chung một ngày vào tháng Bảy. Mấy bận bà thắc mắc thì ông cười mà mắt vẫn lấp lánh ánh buồn, đó là ngày vui, ngày giỗ chung để những ai còn sống tụ về kể chuyện vui cho người đã khuất.

Tưởng chỉ mình ông lạ lùng, nhưng mấy ông bạn đồng đội cũng gật gù chí phải. Ngày giỗ chung, mình gọi ngày xanh kể chuyện lành đi. Bận đó mấy ông bộ đội đàn em của ông ngồi cười tựa như đi qua cuộc chiến, sinh tử cơ hồ là gió mùa thu.

Thành ra, cứ giỗ chung anh em khi xưa lại tìm về. Có bận đông quá, anh công an khu vực trẻ ghé ngang xem thế nào.

Nhìn những cựu chiến binh kể chuyện chiến trường, thấy khói hương vương vào màu áo xanh, thấy chiến trận nó vận vào cuộc đời các cụ. Thấy rồi im lặng. Thắp nén nhang, anh công an trẻ ra về.

Lát tối chạy đến đưa bao trà, xin đâu cả hộp lương khô Hương Quê của hậu cần tặng các cụ uống trà kể chuyện xưa. Mấy ông già cầm lương khô lại rưng rức mắt đỏ.

Dần dà năm tháng riết thành nếp. Cứ thấy áo xanh nhuốm màu phong sương gió bụi nơi đầu hẻm, là bà con bắt đầu mua nhang đèn, bánh trái qua nhà ông cựu chiến binh làm giỗ. Cái hẻm nhỏ lại có dịp rộn ràng.

Nén nhang chuyền tay, câu chuyện chuyền lòng, lòng người nối nhau. Hẻm nhỏ hay đón mấy ông bộ đội xưa bằng tiếng chào: Ông Quảng Trị khỏe không? Ông Hà Tĩnh năm nay trễ một ngày nhe, ông Đà Nẵng năm nay không dắt vợ theo à? Cứ thể như mấy ông lính xưa là người thân thiết trong cái xóm nhỏ.

Thỉnh thoảng sau những lần ôm ấp ký ức thời chiến, mấy ông già bất giác khóc ngon ơ. Mấy ông già còn bao nhiêu năm nữa để ghé về căn nhà chung này mà giỗ.

Tỷ như năm rồi còn người này, năm nay thì đã đi theo đồng đội rồi. Đám trẻ ngày đó cứ khoác áo xanh là sống thác cũng chỉ như một chuyến đi về, hợp tan cũng chỉ là trò dâu bể.

May mắn còn tới giờ này nhìn nhau thương nhau, nên cứ thiếu một ai đó không về dự giỗ chung thì lòng người còn lại nó trống trải khôn nguôi. Nỗi nhớ mang tên một người bạn, đó là nỗi nhớ ghim sâu nhất trong lòng dạ người ta.

Hồi đó, ông về xã công tác rồi dần chuyển lên Hội Cựu chiến binh của tỉnh. Cứ vậy những mùa khô ông ruổi rong theo nhóm quy tập hài cốt liệt sĩ.

Khi thì đi với K91 sang Prey Veng, Pursat. Lúc lại đi với K92 qua Koh Kong, Kép hay Kreah. Cũng có bận ông khăn gói nói theo K93 qua Takeo rồi đi thêm Kampong Speu. Bàn chân ông qua khắp nẻo chiến trường xưa như thuộc lòng ngóc ngách. Chuyến ngắn cũng hơn tháng, chuyến dài có khi 3 tháng ông mới quay về.

Những địa danh ngày trước bà cũng chỉ nghe loáng thoáng, nhưng từ ngày ông đi nhiều, thì câu chuyện những người anh em đồng đội vẫn chưa quy hồi cố hương cũng dày thêm trong tâm khảm bà. Ông đi rồi về kể. Những câu chuyện cứ nối dài hai miền không gian, xuyên qua những thời gian khiến nếp nhăn trên vầng trán ông ngày càng đậm đặc.

Thoảng khi, ông tư lự bên ấm trà đêm. Lỡ tui cạn tuổi đời mà còn chưa xong cuộc quy hồi cố hương cho đồng đội thì bà ráng mà giữ miếng vườn. Bà nhìn bóng ông đổ dài bên hiên theo con trăng tròn mà thắt thẻo lòng mình.

Mỗi bận ông về, lúc nào cũng mang theo một nhúm đất của nơi đó, ông gói kỹ trong cái bọc, tránh nắng, che mưa cẩn thận. Ông rì rầm khấn nguyện anh linh của đồng đội nếu có thương ông thì nương theo cục đất ấy về, để ngày ngày ông còn chăm chút. Ông rải lên vườn nhà, coi như đã đưa anh linh đồng đội về cận kề bên mình.

Ông thương mảnh vườn. Nơi đó ông trồng thêm nào là hoa, nào là cây trái. Ông nuôi thêm con gà, trồng thêm mớ rau. Lính thời đó hành quân thèm đủ thứ. Gặp rau rừng cứ ăn. Gặp trái dại chim mổ cũng ăn. Đêm nằm mơ thèm thịt gà mà thức giấc ứa cả nước miếng.

Ông nhắc chuyện cũ càng, để những ngày đi vắng bà chăm bẵm mảnh vườn như chăm bẵm một vùng luyến thương của ông. Đời ông lỡ làng đi qua cuộc chiến mới có được niềm vui bé mọn này, nên bà cũng thương mảnh vườn như thương chính ông. Hơn năm mươi tuổi, tóc ông bạc trắng, mắt ông vẫn xa xăm một điều gì đó.

Ngày ông về với đất để nhịp bước quân hành cùng những đồng đội nằm đâu đó các chiến trường thì cũng là lúc gió thổi qua tuổi bà đã ngoài bảy mươi. Bà lẳng lặng vuốt mắt ông rồi nhìn ra cái vườn cây sum sê mướt xanh lá.

Sở dĩ đồng đội chọn nhà ông làm giỗ chung mỗi tháng Bảy bởi giữa phố thị hoa lệ này, may còn có nơi đất rộng đủ để mấy chục ông cựu chiến binh tìm về. Một nơi để họ sống lại ngày tháng thanh xuân xanh màu áo lính bên nhau.

Khu vườn này, mấy ông cựu chiến binh mắc võng nằm ngủ trưa rồi cười, rồi rơi nước mắt nhắc chuyện hồi chiến trường bên cánh võng. Căn nhà này, mấy ông cựu chiến binh như thuộc lòng ngóc ngách để đồ bao năm qua, nửa đêm mớ ngủ vẫn mò được đường đi.

Bà cùng hai đứa con đi qua những mùa giỗ chung từ đó đến nay. Mâm cúng lúc nào cũng đủ đầy bánh trái, thịt thà, rồi thêm thanh lương khô và mấy gói thuốc. Bà tất bật chuẩn bị từ cả tuần lễ trước.

Bà hay nói với hai đứa con. Giờ hòa bình rồi, sống sướng hơn xưa, cái gì cũng có. Chứ hồi đó đời lính khổ lắm! Họ có thể đi hết cả con đường chiến trận, nhưng mấy ai đi trọn con đường về nhà.

Cứ đến ngày giỗ chung, bà lại nghe ngóng xem năm nay, đồng đội ông bao nhiêu người được quy tập, được bốc cốt hoặc được người thân tìm thấy. Nửa thế kỷ, chuyến về vẫn còn xa lắm!

Cách mấy hôm trước, đàn em của chồng bà gọi điện thoại cho bà kể chuyện mười mấy ông nhét vào cái xe hai chín chỗ ngồi đi dọc đi ngang, ghé thăm nhà đồng đội, ghé nghĩa trang Trường Sơn, rồi thả hoa đăng bên dòng Thạch Hãn, lên Đắk Nông đứng giữa đại ngàn mà cắm cây nhang vào những dấu xưa tích cũ, gọi tên đồng đội.

Xác thân đồng đội quyện hết vào đất này. Bữa về rạch Ông Hào của miệt vườn Cửu Long, mấy ổng tiếc con rạch nay bị lấp để lấy đất xây khu công nghiệp. Biết hồn phách của đồng đội giờ nơi đâu? Cầm bó nhang quơ lên không trung mà nghe lòng buồn rười rượi.

Anh linh của đồng đội bao năm cũng thấm dần sóng nước mà thành phù sa bồi cho bãi bờ đất nước.

Mưa tháng Bảy hay đến rồi đi bất chợt ở thành phố này. Xóm nhỏ ngoại ô, căn nhà mái tôn nghe lộp độp tiếng mưa rơi.

Bỗng ngoài cổng nhà rộn ràng tiếng mấy ông già cười ì đùng. Mấy ông già lội mưa ướt sũng. Mưa dán cái áo màu xanh cũ càng vào tấm thân cằn cỗi run lập cập.

Bà mở cổng đón mấy ông bạc trắng mái đầu phong sương tìm bạn. Bà thở phào nhẹ nhõm, ai cũng còn khỏe. Thắp nén nhang lên bàn thờ cho chồng, bà thủ thỉ đồng đội về giỗ chung rồi nè ông.

Hai con của bà cũng lăng xăng dọn chỗ rồi nấu cơm chiều cho mấy chục cựu chiến binh. Chuyện năm nào cũng vậy, riết thành quen. Căn nhà nhỏ ven ngoại ô ấm hương nhang, rổn rảng tiếng kể chuyện.

Mới một tốp à, chừng hai ba ngày nữa là thêm vài tốp. Mấy ông lính già quyết năm nay giỗ chung phải đặc biệt theo chiến dịch 500 ngày đêm quy tập hài cốt.

Bà chưa biết sắp xếp sao thì mấy ổng đã nhao nhao phân công nhiệm vụ sắp đặt lễ cúng tận ngoài công viên Lê Thị Riêng, nơi đang là tâm điểm của đợt quy tập hài cốt. Bà rưng rưng nước mắt.

Tháng Bảy dắt nắng mưa ngang qua đất trời, dắt luôn mấy ông già về với ngày xanh để hong lành chuyện cũ.

TỐNG PHƯỚC BẢO

Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ngay-xanh-chuyen-lanh-3345995.html