Ngày xuân kể chuyện đèo Le
Đèo Le, một địa danh dân gian nhưng lại ẩn chứa trong đó biết bao trầm tích lịch sử - văn hóa của một vùng đất.
Dài chừng 7km, vắt qua vai núi Hòn Tàu, đèo Le nằm trên đường ĐT611 với độ cao 500m so với mực nước biển, nối liền hai huyện Quế Sơn và Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam cũ. Tuy chỉ là con đèo nhỏ nhưng đèo Le nổi tiếng với không gian thăm thẳm và còn vẻ hoang sơ.

Đường qua đèo Le hôm nay. Ảnh: N.H
Quê ta có cái đèo Le
Mấy năm trước, người viết và một số sinh viên Đại học Duy Tân theo chân nhà báo Văn Thành Lê làm một chuyến du khảo lên đất trung du Nông Sơn. Chúng tôi nghỉ chân nơi một quán nhỏ bên sườn đèo Le, quán do một người dân tên Tư ở xã Sơn Viên (bấy giờ trực thuộc huyện Nông Sơn) mở để đón khách vãng lai qua đèo, lọt thỏm trong sườn đồi trồng cây dó bầu trầm mặc trong hoàng hôn. Buổi chiều quán vắng khách, chỉ có chúng tôi và ông chủ miên man chuyện phiếm. Chỉ riêng cái tên gọi đèo Le cũng ngốn bao nhiêu là ấm chè xanh mới ra chuyện.
Ông Tư cho biết, ngày xưa, vùng đèo này nguyên là một rừng le, một loại cây thuộc họ tre nứa không có gai, thân dẻo, có sức phát tán mạnh mẽ, sức sống dẻo dai đến kỳ lạ. Cây le dù bị đốt cháy như thế nào, cứ lửa tàn là không lâu sau lại đâm chồi non khác mọc khỏe hơn, nhất là đến mùa mưa. Hễ nơi nào có đất trồng trọt là nơi đó có cây le xuất hiện, cứ thế mà ngày một dày đặc thành rừng. Người dân địa phương đến mùa lại rủ nhau đi hái măng le, chọn loại nhô lên từ mặt đất tầm trên dưới một gang tay, được gọi là măng búp, có ruột dày, cho vị ngon ngọt nhất. Thế là đặc sản đèo Le theo cánh thương lái về bày bán tại các chợ miền xuôi.
Cậu sinh viên Lê Văn Thắng dè dặt góp lời: Em có đọc ở đâu đó, họ nói đèo Le là cách đọc trại De Larie - tên một người Pháp đã có công khám phá và khai thông đèo. Nhà báo Văn Thành Lê lên tiếng: Điều đó không khả tín cho lắm, bởi De Larie phát âm theo tiếng Pháp là “Đờ La-ri” thì làm chi có thể “bà con” với đèo Le được!
Đèo Le là một trong những địa danh xuất phát từ dân gian thấm đẫm chất Quảng. Qua lời chủ quán, có thể hình dung một vùng đất vốn dĩ bốn bề là rừng rậm núi cao, người dân cắt rừng, vượt núi để về xuôi. Nhưng đường đi vốn cheo leo, đầy thú dữ nên phải đè đá núi mà leo, leo cả buổi mà chưa hết đèo, lên tới đỉnh đèo là “le lưỡi” mà thở! Mà người Quảng vốn một sẵn bụng tiếu lâm, một kho nói lái nên cái từ le trong đèo Le đã chuyển sang một ngữ nghĩa mới. Còn nhớ, Tạp chí Đất Quảng năm 1988 có hai câu lục bát “Quê ta có cái Đèo Le/ Ông bà mình lái là đè để leo” của người phụ trách mục tiểu phẩm trào phúng - nhà thơ Cung Văn (Nguyễn Vạn Hồng).

Chợ Đàng làng Phước Đức. Ảnh: N.H
Mở rộng đường đèo bằng... tình sui gia
Xưa nay cư dân ở hai đầu đèo Le đều ghi lòng công đức của Phó bảng Nguyễn Đình Hiến (1872 - 1947) người Lộc Đông, tổng Trung Lộc (nay là xã Quế Lộc, thành phố Đà Nẵng), một trong “Tứ hổ”, “Tứ kiệt” của Quảng Nam. Là vị quan lớn của triều Nguyễn với tấm lòng thanh liêm nhất mực, khi về hưu tại quê nhà, ông đã có công rất lớn mở con đường đèo Le kéo dài từ Đông sang Tây, rộng 3m và dài khoảng 7km, tạo điều kiện thuận lợi giao thương và phát triển kinh tế cho quê nhà.
Việc mở rộng đèo bắt nguồn từ chuyện rước dâu mất gần ngày trời khi con gái ông về làm dâu một đồng liêu là Tiến sĩ Phan Quang người làng Phước Đức, xã Quế Châu (nay là xã Quế Sơn Trung, thành phố Đà Nẵng). Hai nhà khoa bảng kết tình sui gia qua hai người con là Phan Khoang và Nguyễn Thị Thanh.
Cháu nội Tiến sĩ Phan Quang và là cháu ngoại Phó bảng Nguyễn Đình Hiến là ông Phan Tử. Hai năm trước, trong chuyến từ Hoa Kỳ về quê nhà Phước Đức làm mộ cho cha mẹ mình, ông có cậy nhà báo Văn Thành Lê tìm người am hiểu chữ Nho làm hai câu đối khắc lên tiền án để bày tỏ tấm lòng con cháu hiếu kính với cha mẹ. Nhờ vậy, chúng tôi mới hữu duyên được nghe câu chuyện rước dâu qua đèo Le vào những năm đầu thế kỷ 19 đầy lãng mạn do chính hậu duệ của hai nhà Phan - Nguyễn kể lại.
Theo lời ông Phan Tử, lúc sinh thời, sử gia Phan Khoang vẫn kể cho các con nghe về lễ rước dâu đình đám, đậm chất truyền thống của mình như hồi quang của một thời danh gia vọng tộc. “Khi ông nội tôi kết sui gia với gia đình cụ Phó bảng, ngày cưới, cha cùng đoàn rước dâu vào sáng tinh mơ, đi bộ gần 30km từ làng Phước Đức vượt qua đèo Le đến làng Lộc Đông trước một ngày để sáng hôm sau kịp rước dâu. Bây giờ, đèo Le mở rộng thênh thang, nếu có rước dâu bằng ô tô chỉ vèo tầm nửa tiếng là tới. Chứ vào những năm ấy, phải đi bộ trên đường núi đèo đầy hiểm nguy rình rập, tính cả đi lẫn về là 2 ngày trời ròng rã...”.
Nghe những lời đó, tôi mỗi lần có dịp chạy xe máy qua đèo Le lại nghe đâu đây có tiếng lục lạc reo theo nhịp bước chân ngựa vọng về trong bảng lảng khói sương. Hình ảnh chú rể Phan Khoang mặc áo gấm đỏ, cưỡi ngựa bạch in trên đỉnh đèo xanh ngắt cây lá. Theo sau là đoàn phu khiêng võng điều của cô dâu Nguyễn Thị Thanh người làng Lộc Đông chầm chậm qua đèo. Có lẽ cuộc đưa dâu với chặng đường dài đầy khó khăn, nguy hiểm này đã để lại trong lòng cụ Phó bảng nhiều thấu cảm cho dân chúng quê nhà.
Mùa đông năm Bính Tý (1936), khi có dịp diện kiến Tổng đốc Ngô Đình Khôi đi kinh lý miền trung du, ông bèn đem chuyện mở đường trình lên và được quan lớn chấp thuận. Ông đứng ra lập ban vận động lạc quyên để có kinh phí mở con đường băng qua đèo Le kéo dài từ Đông sang Tây, ban đầu chỉ rộng 3m, làm tiền đề để các hậu nhân mở rộng đèo thênh thang lộng gió như hôm nay.
Từ ngày đường đèo Le nới rộng, việc giao thương, đi lại giữa các làng phía trên Tây Viên và phía dưới Cây Bùi dần dà khởi sắc. Cụ Nguyễn Đình Hiến đã cẩn thận soạn 4 tấm bia dựng tại đỉnh đèo, tấm bia chính ghi lại công tích mở đường đèo Le, các tấm còn lại ghi danh sách các vị hảo tâm góp tiền bạc để mở đường.

Ông Hà Ngọc Tiên (phải) kể chuyện hát tuồng dưới chân Đèo Le. Ảnh: N.H
Trầm tích lịch sử - văn hóa
Tháng Giêng đã đi qua làng mạc trung du, để lại những bông mướp vàng trên hàng rào trước ngõ. Chúng tôi có việc về thôn Lộc Thượng, xã Quế Long cũ (nay là xã Quế Sơn, thành phố Đà Nẵng) vào một ngày còn xuân, tiện thể ghé thăm ông Hà Ngọc Tiên, người giữ hồn hát bội (hát tuồng) dưới chân đèo Le để hàn huyên chuyện xưa, tích cũ.
Ông Tiên cho biết, sở dĩ vùng đất Quế Sơn duy trì được đội tuồng riêng để nối dài giai điệu trăm năm của tiếng trống chiến, trống chầu vì chưng nơi đây từng có làng Đức Giáo (nay thuộc thôn 3, xã Quế Sơn Trung, thành phố Đà Nẵng) từ lâu được xem là một trong những cái nôi của hát bội xứ “Ngũ phụng tề phi”. Ngày trước, làng Đức Giáo cùng với làng Khánh Thọ (Phú Ninh), nhiều lần được gọi ra kinh đô để “diễn chầu”, được triều Nguyễn sắc phong là làng Nhị ca, chỉ đứng sau một số đoàn Nhứt ca của cung đình!
Mảnh đất này đã nuôi dưỡng một người được mệnh danh là “Người truyền giáo hát bội” - Giáo sư Hoàng Châu Ký, bậc kỳ tài đã đóng góp cho nghệ thuật tuồng nhiều công trình nghiên cứu sâu và rộng với mục đích duy nhất là để đến hồi thái lai của nghệ thuật tuồng, để các thế hệ mai sau có còn căn cứ để làm tuồng.
Hôm về Phước Đức (Quế Châu), thăm từ đường tộc Phan gần chợ Đàng, tôi được nghe anh Phan Văn Lợi, lớp hậu duệ của Tiến sĩ Phan Quang, cũng là người đảm nhận chăm sóc từ đường gia tộc cho biết: “Các bậc cao niên trong tộc Phan vẫn kể lại rằng, ngày vinh quy bái tổ về làng, Tiến sĩ Phan Quang đã thuê hẳn gánh hát bội làng Đức Giáo bên cạnh về hát cho bà con coi suốt một tháng ròng. Mà đêm mô cũng đi coi hát nên đói bụng. Rứa là người làng mới đem sắn, khoai, bánh tráng, nước chè xanh ngồi bên đàng bán. Bán riết một tháng trời thành cái chợ chồm hổm lúc mô không hay. Cái tên chợ Đàng ra đời từ đó…”.
Tôi ngồi lắng nghe tiếng thì thầm của đồng lúa quê xanh mướt với dòng sông Ly Ly bốn mùa hiền hòa. Được biết, những năm gần đây, năm nào miền đất dưới chân đèo Le cũng đều tổ chức Liên hoan nghệ thuật tuồng và dân ca cho người dân địa bàn mình. Tôi vẫn luôn tin rằng dù đã qua tuổi cổ lai hy, ông Hà Ngọc Tiên, người giữ tuồng dưới chân đèo Le vẫn giữ ấm tình yêu với hát bội.
Đèo Le, một tên gọi dân gian nhưng lại ẩn chứa trong đó biết bao trầm tích lịch sử - văn hóa của một vùng đất.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/ngay-xuan-ke-chuyen-deo-le-3328999.html












