Ngày xuân nhớ về tục bánh chưng nung

Giữa tiết xuân ấm áp, khi hương trầm bảng lảng nơi làng quê xứ Thanh, người dân xã Xuân Lập lại bồi hồi nhớ về tục nung bánh chưng - nét văn hóa đặc sắc trong tết xưa của người dân làng Trung Lập. Không chỉ là món ăn truyền thống ngày tết, bánh chưng nung còn là 'đặc sản tiến vua' được tiếp nối qua bao thế hệ.

Hoạt động nung bánh chưng được tổ chức vào mỗi dịp Lễ hội đền thờ Lê Hoàn (mùng 7 - 9/3 âm lịch).

Hoạt động nung bánh chưng được tổ chức vào mỗi dịp Lễ hội đền thờ Lê Hoàn (mùng 7 - 9/3 âm lịch).

Mỗi độ xuân về, trong không gian đất trời giao hòa, ký ức về những phong tục xưa cũ lại lặng lẽ trở về trong tâm thức người dân làng Trung Lập. Giữa nhịp sống hiện đại đang từng ngày đổi thay, vẫn còn đó những nếp sinh hoạt truyền thống được người dân trân trọng nâng niu, xem như mạch nguồn kết nối quá khứ với hiện tại. Trong dòng chảy ấy, tục nung bánh chưng của người dân làng Trung Lập không chỉ là một cách chế biến ẩm thực đặc biệt, mà còn là ký ức văn hóa cộng đồng, kết tinh từ đời sống nông nghiệp lúa nước và chiều sâu lịch sử của vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi còn lưu nhiều dấu tích về Anh hùng dân tộc Lê Hoàn.

Với người dân làng Trung Lập, việc gói bánh, nung bánh chưng không chỉ diễn ra trong phạm vi mỗi gia đình mà còn mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc. Trước đây, vào những ngày giáp Tết Nguyên đán, cả làng lại rộn ràng chuẩn bị lá dong, gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn, rồi chung tay gói bánh, nhóm lửa, thay nhau canh bánh suốt ngày đêm. Trong ánh lửa trấu bập bùng, câu chuyện làng xóm, chuyện mùa màng, chuyện tổ tiên, vua chúa được kể lại, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác... tạo nên không gian sum vầy, ấm cúng rất riêng của vùng đất Xuân Lập mỗi độ xuân về.

Điều làm nên nét độc đáo của bánh chưng nung Trung Lập chính là phương thức nấu bánh. Không nấu bằng nồi kim loại, không đun bằng củi hay than như ở nhiều nơi khác, người dân nơi đây dùng chum sành và trấu để “nung” bánh. Bánh sau khi gói xong, được xếp ngay ngắn vào chum sành. Người ta đánh nùn rơm, đổ trấu bao quanh chum từ đáy lên gần miệng, rồi dùng thân cây chuối (hoặc gạch) dựng đứng thành một vòng tròn liền nhau để rơm và trấu luôn ốp sát vào thành chum. Sau đó, nước được đổ đầy vào chum và bắt đầu nhóm lửa, cho trấu cháy đều. Khi lửa gần tàn, lại tiếp tục cho thêm trấu để duy trì nhiệt độ. Cứ như thế, bánh được nung liên tục trong khoảng 24 giờ đồng hồ mới chín nhừ. Trong suốt quá trình đó, người làm bánh phải thường xuyên theo dõi, kịp thời bổ sung nước khi vơi để bánh chín đều, đồng thời tránh để chum sành bị nứt, vỡ do nhiệt độ quá cao. Sự công phu, tỉ mỉ và kinh nghiệm tích lũy qua nhiều đời chính là yếu tố quyết định chất lượng của bánh chưng nung Trung Lập.

Ông Đỗ Đình Tốn (81 tuổi, thôn Trung Lập 3) bồi hồi nhớ lại: “Tục nung bánh chưng của người dân làng Trung Lập xưa không chỉ là chuyện làm bánh ăn tết, mà là cả một nếp sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Riêng 3 cặp bánh chưng để dâng đền thờ Lê Hoàn và thờ gia tiên, mỗi chiếc sẽ được gói 3kg gạo, có kích thước lớn 25cm x 25cm, dày khoảng 12cm; bánh để ăn loại nhỏ khoảng 1kg gạo mỗi chiếc. Mỗi lần nung bánh là người dân trong làng lại cùng chung tay, từ gói bánh, chuẩn bị trấu, rơm đến thay nhau canh lửa suốt ngày đêm. Bánh chưng nung khi bóc ra có màu xanh, bánh rền và rất thơm ngon, có hương vị riêng biệt, ai đã từng thưởng thức thì đều nhớ mãi”.

Theo các cụ cao niên trong làng, bánh chưng nung là sản phẩm kết tinh từ điều kiện tự nhiên và sự sáng tạo của cư dân nông nghiệp lúa nước. Việc tận dụng trấu làm chất đốt, kết hợp với chum sành quen thuộc trong đời sống sinh hoạt, cho thấy sự thích ứng linh hoạt và kinh nghiệm sống bền bỉ của người dân qua nhiều thế hệ. Chính từ những điều giản dị ấy, bánh chưng nung Trung Lập đã vượt ra khỏi ý nghĩa ẩm thực thông thường để trở thành sản vật mang giá trị văn hóa - lịch sử, gắn với việc dâng tiến trong các nghi lễ xưa, đặc biệt là trong không gian thờ tự vua Lê Hoàn.

Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Lập, ông Lê Văn Dũng cho biết: “Địa phương xác định việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ quan trọng. Ngày nay, điều kiện kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi, người dân không còn làm bánh chưng nung như trước đây, song mỗi dịp Lễ hội đền thờ Lê Hoàn, hoạt động này vẫn được tổ chức và trở thành một trong những nét văn hóa đặc sắc, gắn với nghi lễ dâng bánh tiến vua, góp phần làm phong phú thêm không gian lễ hội truyền thống và đời sống văn hóa cộng đồng”.

Cùng với việc phục dựng các nghi lễ trong lễ hội truyền thống, bánh chưng nung Xuân Lập những năm gần đây dần trở thành sản phẩm văn hóa đặc trưng, thu hút sự quan tâm của du khách thập phương. Nhiều người khi về trẩy hội đền thờ Lê Hoàn không chỉ tham quan di tích mà còn được tận mắt chứng kiến hoạt động nung bánh, thưởng thức hương vị bánh chưng “tiến vua” trứ danh. Với người dân Xuân Lập, đặc biệt là những người con xa quê, hình ảnh lò nung đỏ lửa giữa sân, mùi trấu cháy quyện trong gió xuân chính là ký ức thân thương của những ngày tết sum vầy, là biểu tượng của sự gắn kết cộng đồng, của tình làng nghĩa xóm được bồi đắp qua bao thế hệ.

Giữa dòng chảy của thời gian và nhịp sống hiện đại, việc gìn giữ những phong tục truyền thống như tục nung bánh chưng không tránh khỏi những khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, bằng ý thức bảo tồn văn hóa và sự chung tay của chính quyền địa phương cùng người dân, ngọn lửa trấu nung bánh chưng ở Xuân Lập vẫn được duy trì, gìn giữ qua năm tháng. Ngày xuân, nhớ về tục nung bánh chưng không chỉ là nhớ về một món ăn, mà còn là dịp để mỗi người thêm trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của quê hương, nơi quá khứ - hiện tại gặp nhau trong hương vị mộc mạc, bền bỉ của làng quê xứ Thanh.

Bài và ảnh: Hoài Anh

Nguồn Thanh Hóa: https://vhds.baothanhhoa.vn/ngay-xuan-nho-ve-tuc-banh-chung-nung-42031.htm