Nghề nuôi ngao tại Ninh Bình: Từ bãi bồi đến chuỗi giá trị

Từ một nghề phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nuôi ngao ở Ninh Bình đang từng bước chuyển sang hướng sản xuất chuyên nghiệp. Người nuôi chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý môi trường, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng ngày càng khắt khe. Sự chuyển dịch giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, mở ra cơ hội gia tăng giá trị sản phẩm, từng bước đưa con ngao trở thành sản phẩm có sức cạnh tranh trên thị trường.

Kiểm tra chất lượng ngao thương phẩm trước khi xuất bán ở xã Kim Đông. Ảnh: Viết Dư

Kiểm tra chất lượng ngao thương phẩm trước khi xuất bán ở xã Kim Đông. Ảnh: Viết Dư

Từ nghề nuôi ngao quảng canh

Ở các vùng bãi bồi ven biển, ngao từ lâu đã gắn với sinh kế của hàng nghìn hộ dân. Những năm trước, phần lớn người nuôi vẫn bám theo con nước, dựa nhiều vào kinh nghiệm và phó mặc cho tự nhiên. Đến nay, trên nhiều bãi nuôi, cách làm đã thay đổi theo hướng tích cực. Người nuôi chú trọng giống đầu vào, mật độ thả, vệ sinh mặt bãi, quản lý môi trường và liên kết tiêu thụ.

Toàn cảnh một xưởng sơ chế ngao tập trung quy mô lớn tại xã Kim Đông, nơi tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục lao động địa phương. Ảnh: Viết Dư

Toàn cảnh một xưởng sơ chế ngao tập trung quy mô lớn tại xã Kim Đông, nơi tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng chục lao động địa phương. Ảnh: Viết Dư

Tại xã Giao Phúc, khi thủy triều vừa rút, người nuôi ngao đã tỏa ra khắp bãi bồi để kiểm tra mặt bãi, thu hoạch và chăm sóc vùng nuôi. Với họ, mỗi con nước đều gắn với những nỗi lo về thời tiết, môi trường và chất lượng nguồn nước, bởi đây là những yếu tố quyết định thành bại của cả vụ sản xuất.

Anh Ngô Văn Thái, hộ dân gắn bó nhiều năm với nghề nuôi ngao quảng canh, chia sẻ: “Vụ sản xuất của gia đình tôi bắt đầu từ những mẻ giống nhỏ khoảng 5.000 con/kg; từ đó đến khi thu hoạch phải chờ khoảng 2 năm. Ngao bãi bồi không sử dụng thức ăn nhân tạo mà sống nhờ phù du tự nhiên theo từng con nước thủy triều. Nhằm bảo vệ tài sản, chúng tôi phải cải tạo nền cát, cắm cọc, giăng lưới, khoanh bãi và theo dõi thường xuyên biến động môi trường. Rủi ro lớn nhất là sự thay đổi của nguồn nước, bởi những đợt mưa lớn, nước ngọt từ thượng nguồn đổ về làm ngao sốc độ mặn, suy giảm sức sống”. Nhờ áp dụng kỹ thuật ngay từ khâu chọn giống, mỗi năm, gia đình anh Thái duy trì sản lượng khoảng 150 tấn ngao. Với giá nguyên liệu mua xô hiện tại khoảng 20.000 đồng/kg, doanh thu sau khi trừ chi phí đạt xấp xỉ 600 triệu đồng.

Nữ công nhân đang miệt mài phân loại ngao thương phẩm tại xưởng sơ chế đạt chuẩn ở xã Kim Đông. Ảnh: Viết Dư

Nữ công nhân đang miệt mài phân loại ngao thương phẩm tại xưởng sơ chế đạt chuẩn ở xã Kim Đông. Ảnh: Viết Dư

Tại vùng ven biển Kim Sơn, tư duy sản xuất đang dần thay đổi. Trên diện tích hơn 10 ha tại xã Kim Đông, anh Nguyễn Văn Thành cắm hàng vạn cọc tre, quây lưới kiên cố và tổ chức lại sản xuất theo hướng chặt chẽ ngay từ đầu vụ. Anh Thành cho biết: “Mỗi vụ, tôi xuống giống khoảng 40 tấn ngao đạt chuẩn. Sau 18 đến 20 tháng chăm sóc, bãi ngao cho thu hoạch từ 250 đến 300 tấn nguyên liệu. Việc điều chỉnh mật độ thả, giữ vệ sinh mặt bãi và kiểm soát tăng trưởng giúp tỷ lệ hao hụt thấp hơn, chất lượng đồng đều hơn, từ đó giá thu mua luôn giữ được sự ổn định”.

Theo ghi nhận thực tế, loại ngao cỡ 80 con/kg được thương lái thu mua khoảng 23.000 đồng/kg, loại to hơn cỡ 70 con/kg có thể đạt khoảng 25.000 đồng/kg. Sau khi trừ chi phí đầu tư, anh Thành có mức lãi bình quân khoảng 500 triệu đồng/ha. Những kết quả tích cực cho thấy khi con ngao được nuôi theo quy trình và có liên kết thị trường, giá trị kinh tế trên cùng một đơn vị diện tích tăng lên đáng kể.

Bốc xếp những bao ngao thương phẩm lên tàu tại bến Kim Đông để vận chuyển đến các nhà máy chế biến xuất khẩu. Ảnh: Viết Dư

Bốc xếp những bao ngao thương phẩm lên tàu tại bến Kim Đông để vận chuyển đến các nhà máy chế biến xuất khẩu. Ảnh: Viết Dư

Tạo giá trị trên mỗi hecta mặt bãi, nghề nuôi ngao còn tạo việc làm cho nhiều lao động địa phương. Trên bãi bồi, nhiều lao động địa phương đang có việc làm ổn định nhờ các khâu phân loại, nhặt vỏ, làm sạch, đóng bao và bốc xếp. Chị Vũ Thị Tuyết (47 tuổi), người gắn bó gần 20 năm với công việc phân loại ngao tại bến Kim Đông, chia sẻ: “Thu nhập từ 3 đến 5 triệu đồng mỗi tháng tuy không lớn nhưng đều đặn. Nguồn thu này giúp tôi và nhiều chị em khác có thêm chi phí lo toan cuộc sống gia đình”. Tương tự, anh Phạm Hoàng Nhật (21 tuổi), làm công việc đổ ngao với mức công 300.000 đồng/ngày. Theo anh Nhật, vào thời điểm chính vụ, công việc khá đều nên thu nhập ổn định hơn so với nhiều nghề thời vụ khác.

Định hình chuỗi liên kết bền vững

Theo Chi cục Thủy sản - Kiểm ngư Ninh Bình (Sở Nông nghiệp và Môi trường), toàn tỉnh hiện khai thác 3.145 ha mặt bãi nuôi ngao. Trong 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng đạt trên 43.000 tấn, trong đó gần 6.000 tấn được cung cấp cho các nhà máy chế biến xuất khẩu. Đến nay, diện tích vùng nuôi đạt chứng nhận ASC đạt 1.205 ha, tạo nền tảng để mở rộng thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm.

Công nhân xử lý ngao tại Công ty TNHH Thủy sản Lenger Việt Nam. Ảnh: Viết Dư

Công nhân xử lý ngao tại Công ty TNHH Thủy sản Lenger Việt Nam. Ảnh: Viết Dư

Nếu như trước đây ngao chủ yếu được bán nhỏ lẻ ngay tại bãi, thì nay giá trị của sản phẩm đang được nâng lên nhờ liên kết với doanh nghiệp và tiêu chuẩn hóa quy trình. Đặc biệt, ngao Ninh Bình hiện đã trở thành nguồn nguyên liệu cho các đơn vị chế biến xuất khẩu như Công ty TNHH Thủy sản Lenger Việt Nam và Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Thanh Hóa.

Tại bến Kim Đông, anh Lê Thanh Hà, phụ trách thu mua nguyên liệu của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản Thanh Hóa, cho biết: “Trung bình mỗi ngày bến xuất đi từ 50 đến 70 tấn nguyên liệu. Ngao sau khi thu hoạch được vận chuyển thẳng về nhà máy chế biến, phục vụ thị trường trong nước lẫn xuất khẩu sang các thị trường lớn như châu Âu, Nhật Bản và Mỹ”.

Ở cấp cơ sở, việc tổ chức lại không gian nuôi và quy trình quản lý đang được các địa phương đặc biệt chú trọng. Tại xã Kim Đông, hiện có 226 hộ tham gia nuôi ngao thương phẩm với tổng diện tích mặt bãi khoảng 1.200 ha, sản lượng hàng năm đạt khoảng 28.000 tấn. Quy trình từ kiểm soát độ mặn của nguồn nước, mật độ thả giống đến khâu thu hoạch đều được giám sát chặt chẽ. Sau khi nhổ lên từ bãi bùn, ngao được làm sạch bằng nước biển qua xử lý, loại bỏ tạp chất và phân loại tập trung tại các xưởng sơ chế đạt chuẩn.

Đồng chí Phạm Văn Thoa, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Giao Phúc. Ảnh: Viết Dư

Đồng chí Phạm Văn Thoa, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Giao Phúc. Ảnh: Viết Dư

Ở xã Giao Phúc, các đợt ra quân thu gom rác thải sinh hoạt, rác nhựa công nghiệp trôi nổi được tổ chức thường xuyên nhằm giữ gìn nguồn nước nuôi. Đồng chí Phạm Văn Thoa, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Giao Phúc cho biết: “Địa phương xác định phát triển nghề nuôi ngao phải gắn với bảo vệ môi trường và quản lý chặt vùng nuôi. Vì vậy, cùng với việc duy trì các hoạt động thu gom rác thải, xã đang phối hợp rà soát, sắp xếp lại không gian mặt nước. Đây là những giải pháp cần thiết để bảo đảm sản xuất ổn định, giữ gìn môi trường và phát triển nghề nuôi ngao theo hướng bền vững”.

Từ góc độ quản lý ngành, đồng chí Mai Đăng Nhân, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản - Kiểm ngư Ninh Bình, cho biết: “Toàn tỉnh hiện còn hơn 2.000 ha diện tích tiềm năng có thể phát triển nuôi ngao. Ngành thủy sản đang phối hợp với các địa phương rà soát quy hoạch, mở rộng vùng nuôi đạt chứng nhận ASC, đồng thời kiểm soát chặt chất lượng con giống đầu vào”.

Cán bộ Chi cục Thủy sản - Kiểm ngư Ninh Bình hỗ trợ người dân kiểm tra chất lượng ngao giống. Ảnh: Viết Dư

Cán bộ Chi cục Thủy sản - Kiểm ngư Ninh Bình hỗ trợ người dân kiểm tra chất lượng ngao giống. Ảnh: Viết Dư

Theo định hướng của ngành chức năng, thời gian tới, công tác quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh và hướng dẫn người dân áp dụng quy trình nuôi an toàn sinh học sẽ tiếp tục được đẩy mạnh. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào quản lý vùng nuôi và theo dõi chất lượng môi trường đang trở thành yêu cầu tất yếu, giúp người nuôi từng bước chuyển từ sản xuất dựa vào kinh nghiệm sang sản xuất theo quy trình và dữ liệu.

Từ những bãi bồi ven biển, nghề nuôi ngao ở Ninh Bình đã và đang hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất, thu mua đến chế biến và tiêu thụ. Sự đổi mới trong tư duy sản xuất, liên kết thị trường và quản lý vùng nuôi đang góp phần nâng cao giá trị con ngao, mở rộng cơ hội tiếp cận các thị trường trong và ngoài nước, tạo động lực để kinh tế biển địa phương phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.

Bài và ảnh: Viết Dư

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/nghe-nuoi-ngao-tai-ninh-binh-tu-bai-boi-den-chuoi-gia-tri-260807145214308.html