Nghị quyết 10-NQ/TW: Bước ngoặt tư duy, đưa FDI thành động lực dẫn truyền năng lực trong nền kinh tế

Nghị quyết 10-NQ/TW xác định đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) phải phát triển hiệu quả, bền vững và gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và trở thành chất xúc tác công nghệ và quản trị, liên tục truyền dẫn năng lực...

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 8/6/2026.

Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 8/6/2026.

Chia sẻ với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy về những điểm mới của Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngòa, TS. Bùi Quý Thuấn, Trường Kinh tế - Đại học Phenikaa, Trưởng Ban Nghiên cứu Tổng hợp VIPFA, cho rằng Nghị quyết 10 là sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI.

Thưa ông, dưới góc nhìn nghiên cứu chính sách, ông nhìn nhận thế nào về sự thay đổi mang tính cốt lõi trong tư duy phát triển tại Nghị quyết 10-NQ/TW?

Nghị quyết 10-NQ/TW ra đời trong bối cảnh nền kinh tế cần động lực mới để bứt phá. Điểm cốt lõi nhất của Nghị quyết là sự chuyển đổi mang tính bước ngoặt, chuyển từ tư duy “thu hút theo chiều rộng” sang “phát triển theo chiều sâu”. Sự thay đổi này thể hiện qua 4 khía cạnh đột phá:

Thứ nhất, nâng tầm mục tiêu từ “bổ sung nguồn lực” sang “xác lập mô hình tăng trưởng mới”. Nghị quyết khẳng định thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao trung và dài hạn phải nhằm mục đích góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số..

Thứ hai, định vị không gian phát triển từ “địa giới hành chính” sang “hệ sinh thái liên kết”. Thu hút FDI sẽ tập trung theo cụm ngành và chuỗi giá trị, gắn chặt với các khu công nghệ cao, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và cơ sở dữ liệu số.

Thứ ba, thiết kế công cụ chính sách từ “ưu đãi đầu vào” sang “hỗ trợ theo kết quả”. Khu vực FDI chỉ được hưởng ưu đãi tối đa khi đạt các tiêu chí về chuyển giao công nghệ lõi, thành lập trung tâm R&D, tỷ lệ nội địa hóa, chuyển đổi xanh và lan tỏa giá trị. Tư duy này đi kèm cơ chế hậu kiểm và thu hồi ưu đãi nếu nhà đầu tư vi phạm cam kết.

Thứ tư, thay đổi vị thế từ “thu hút” đơn thuần sang “chủ động kiến tạo và lan tỏa”. Việt Nam chủ động xây dựng danh mục công nghệ chiến lược ưu tiên thu hút (như chip, AI, công nghệ sinh học) và áp dụng quy trình đặc biệt cho các nhà đầu tư chiến lược. Mục tiêu cốt lõi là đưa khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng của khối FDI trước năm 2030.

Việc đặt khu vực FDI vào cấu trúc của “mô hình tăng trưởng mới” gửi gắm thông điệp gì về cách Việt Nam đang điều chỉnh chiến lược dài hạn, thưa ông?

Đứng ở góc độ hoạch định chính sách, việc đặt khu vực FDI vào cấu trúc của mô hình tăng trưởng mới tại Nghị quyết số 10-NQ/TW cho thấy sự điều chỉnh chiến lược rất rõ ràng của Việt Nam.

Một là, chuyển từ tăng trưởng dựa trên nguồn lực sang hiệu suất. Động lực tăng trưởng dài hạn phải đến từ năng suất nhân tố tổng hợp (TFP), hàm lượng công nghệ lõi và năng lực số thay vì dựa vào tài nguyên và nhân công giá rẻ.

Hai là, định vị lại vị thế quốc gia trong bối cảnh mới. Việt Nam không định vị mình là nơi cung cấp mặt bằng nhà xưởng lắp ráp thô ở cuối chuỗi giá trị. Mục tiêu là trở thành mắt xích thượng nguồn, thu hút các tập đoàn Fortune 500 đặt trụ sở điều hành và trung tâm R&D tại Việt Nam… nhằm biến Việt Nam thành một trung tâm ra quyết định, nghiên cứu, thiết kế và quản trị của khu vực Châu Á..

Ba là, nâng cao tự chủ chiến lược và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nhận thức rõ những rủi ro phụ thuộc dòng vốn ngoại khi thế giới có biến động chính trị, Việt Nam yêu cầu khu vực FDI chuyển giao công nghệ, nâng tỷ lệ nội địa hóa lên 45 - 50% trong các ngành chủ lực và tăng tỷ lệ người Việt nắm giữ các vị trí quản lý cấp cao.

Bốn là, tích hợp tiêu chuẩn toàn cầu trong chiến lược thu hút FDI dài hạn của Việt Nam. Bằng cách đưa “chuyển đổi xanh” và “khu công nghiệp sinh thái” vào tiêu chí sàng lọc, Việt Nam đang đón đầu luật chơi mới của thương mại quốc tế.

Nghị quyết định hướng thu hút FDI theo “cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái”. Cách tiếp cận này sẽ định hình lại bản đồ không gian kinh tế ra sao, thưa ông?

Việc chuyển dịch tư duy từ thu hút FDI theo địa giới hành chính sang cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo trong Nghị quyết số 10-NQ/TW là một tư duy mới phù hợp với quy hoạch và định hình không gian phát triển kinh tế của Việt Nam. Điều này cho thấy đổi mới mạnh mẽ trong tư duy kiến tạo phát triển ở các khía cạnh sau:

Xóa bỏ tư duy cục bộ địa phương và hiện tượng “phân rã không gian”: Thay vì các địa phương cạnh tranh thu hút FDI bằng mọi giá, không gian kinh tế sẽ được mở rộng theo vùng động lực, hành lang kinh tế và cụm liên kết ngành dựa trên lợi thế so sánh thực tế của từng khu vực.

Hình thành các “cực tăng trưởng chuyên sâu” tích hợp với thí điểm thể chế vượt trội: Cách tiếp cận theo cụm ngành sẽ thúc đẩy sự tích tụ địa lý, lan tỏa của các doanh nghiệp có mối quan hệ tương hỗ (FDI và doanh nghiệp nội địa).

Việt Nam sẽ hình thành các vùng phát triển chuyên biệt phù hợp với lợi thế về vị trí địa lý và tiềm năng phát triển, ví dụ: cụm ngành bán dẫn, cụm ngành công nghệ số, hoặc cụm ngành năng lượng xanh, trung tâm năng lượng mới, trung tâm sản xuất dựa vào công nghệ cao và dịch vụ logistics, dịch vụ tài chính chất lượng cao gắn với khu thương mại tự do và trung tâm tài chính quốc tế.

Điều này đòi hỏi cần có sự nâng cấp đồng bộ về hạ tầng chiến lược như sân bay quốc tế, cảng biển đầu mối, đường cao tốc và đặc biệt là hạ tầng dữ liệu, hạ tầng số.

Kiến tạo “không gian thể chế vượt trội”: Nghị quyết định hướng thí điểm các cơ chế vượt trội tại Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, trung tâm đổi mới sáng tạo… để thử nghiệm các công nghệ mới (AI, Blockchain, sàn giao dịch tài sản mã hóa), biến nơi đây thành nam châm hút dòng vốn thế hệ mới, đưa Việt Nam hội nhập sâu vào cấu trúc tài chính và công nghệ toàn cầu.

Chuyển đổi không gian công nghiệp từ “Xám” sang “Xanh và Thông minh”: Các khu công nghiệp thâm dụng đất đai sẽ được nâng cấp thành khu công nghiệp sinh thái, thông minh, tích hợp hạ tầng sản xuất với dịch vụ xã hội (nhà ở, y tế) cho người lao động.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, khái niệm “năng lực tự chủ chiến lược” được nhắc đến trong Nghị quyết nên được hiểu thế nào để không nhầm lẫn với sự khép kín, thưa ông?

Khái niệm “năng lực tự chủ chiến lược” được đề cập trong Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cần được hiểu một cách thực tế và toàn diện. Trong bối cảnh thay đổi và biến động địa chính trị trên toàn cầu hiện nay, vấn đề tự chủ chiến lược không phải là việc tách rời khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu, mà là nâng cao vị thế và khả năng kiểm soát của quốc gia bên trong chuỗi cung ứng. Điều này thể hiện ở các góc độ:

Nghị quyết 10-NQ/TW đặt mục tiêu: Đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước; góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Thứ nhất, tự chủ bằng sự “phụ thuộc lẫn nhau một cách bất đối xứng”. Nghị quyết 10 nhấn mạnh Việt Nam phải nắm giữ các khâu then chốt (như trung tâm thiết kế, R&D, hạ tầng dữ liệu hoặc sản xuất các công nghệ lõi như chip bán dẫn và AI) để các đối tác lớn phải phụ thuộc ngược lại vào chúng ta, từ đó gia tăng vị thế thương lượng, giảm thiểu rủi ro bị cô lập hoặc gây sức ép từ bên ngoài.

Thứ hai, làm chủ công nghệ lõi và tiếp thu công nghệ từ khu vực FDI. Khi người Việt làm chủ các vị trí kỹ thuật, quản lý, R&D trong các công ty đa quốc gia, nền kinh tế sẽ có khả năng tự vận hành, tự tái sản xuất và đổi mới sáng tạo mà không bị động khi dòng vốn ngoại dịch chuyển.

Thứ ba, năng lực chống chịu và đa dạng hóa trước các cú sốc địa chính trị. Mục tiêu 75% vốn FDI đến từ các nền kinh tế phát triển và tăng 30% số lượng tập đoàn Fortune 500 tại Việt Nam giúp hệ thống quốc gia duy trì sự linh hoạt và khả năng phòng ngừa rủi ro địa chính trị.

Thứ tư, xây dựng các “trụ cột quan trọng” trong nền kinh tế nội địa đủ mạnh để dẫn dắt như thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước trong nước thông qua các mục tiêu cốt lõi như nâng tỷ lệ nội địa hóa các ngành chủ lực lên 45 - 50% và đưa ít nhất 10.000 doanh nghiệp Việt Nam tham gia trực tiếp vào chuỗi cung ứng toàn cầu chất lượng cao.

Thứ năm, chủ động kiến tạo luật chơi. Áp dụng quy trình thủ tục đầu tư đặc biệt, thí điểm các mô hình thể chế vượt trội và chuyển sang ưu đãi dựa trên kết quả thực hiện cam kết, kiên quyết không đánh đổi môi trường hay an ninh kinh tế lấy tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Trong tầm nhìn 2045, khi Việt Nam đặt mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao, Nghị quyết 10 sẽ đóng vai trò như thế nào, thưa ông?

Tôi cho rằng Nghị quyết 10-NQ/TW chính là “bản thiết kế kiến trúc” tái định hình toàn diện nền kinh tế quốc gia cho giai đoạn tới.

Nó là bệ phóng giúp Việt Nam thoát “bẫy thu nhập trung bình” bằng cách dùng FDI thế hệ mới dẫn dắt các ngành công nghiệp tương lai (AI, bán dẫn, năng lượng xanh). Đồng thời, tạo ra hệ thống tài chính khỏe mạnh thông qua các trung tâm tài chính quốc tế minh bạch, hiện đại và tiệm cận với thông lệ quốc tế.

Quan trọng nhất, Nghị quyết có vai trò “xúc tác”, nâng cấp khu vực kinh tế trong nước bởi mô hình tăng trưởng mới không thể bền vững nếu chỉ đi bằng "một chân" và phụ thuộc vào dòng vốn FDI.

Đến năm 2045, khu vực kinh tế FDI phải phát triển hiệu quả, bền vững và gắn kết chặt chẽ với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và trở thành chất xúc tác công nghệ và quản trị, liên tục truyền dẫn năng lực. Từ đó, tạo ra một nền kinh tế cộng sinh mạnh mẽ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia..

Anh Nhi

Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/nghi-quyet-10-nqtw-buoc-ngoat-tu-duy-dua-fdi-thanh-dong-luc-dan-truyen-nang-luc-trong-nen-kinh-te.htm