Nghị quyết 19-NQ/TW: Kiến tạo năng lực và mở những không gian tăng trưởng mới
Nghị quyết 19-NQ/TW đang mở ra một cách tiếp cận mới về phát triển: không chỉ tìm thêm nguồn lực hay động lực tăng trưởng, mà quan trọng hơn là đổi mới mô hình phát triển.
Nghị quyết 19-NQ/TW đang mở ra một cách tiếp cận mới về phát triển: không chỉ tìm thêm nguồn lực hay động lực tăng trưởng, mà quan trọng hơn là đổi mới mô hình phát triển, phương thức quản trị và cách thức tổ chức không gian kinh tế. Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, nhiều đại biểu cho rằng, Việt Nam cần chủ động kiến tạo những “năng lực phát triển” mới, để mỗi nguồn lực được phát huy hiệu quả hơn và mở thêm những “biên giới tăng trưởng” cho đất nước.

Đại biểu quốc hội Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn
* Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng): Muốn tăng trưởng nhanh, bền vững cần tạo năng lực phát triển mới
Nghị quyết 19-NQ/TW không còn chỉ đặt vấn đề tăng trưởng nhanh hơn, mà đặt vấn đề đổi mới cách thức tạo ra tăng trưởng. Đây là một thay đổi rất quan trọng về tư duy phát triển. Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã đi được một chặng đường rất dài và đạt được những thành tựu lớn. Nhưng mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động, tài nguyên, gia công và khai thác lợi thế chi phí đang dần tới giới hạn. Vì vậy, Nghị quyết lần này đặt yêu cầu chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên năng suất lao động, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đặc biệt, Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là những động lực chính của mô hình phát triển mới. Sâu sắc hơn nữa là Nghị quyết không nhìn tăng trưởng kinh tế một cách tách rời, mà đặt trong một mô hình phát triển tổng thể: thể chế và quản trị quốc gia phải đổi mới; Nhà nước phải chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo phát triển; thị trường và xã hội phải được phát huy; con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, động lực của phát triển.
Nói cách khác, muốn tăng trưởng nhanh và bền vững thì trước hết phải tạo ra năng lực phát triển mới cho đất nước.
* Đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai): Mở những “biên giới tăng trưởng” mới cho nền kinh tế
Một trong những tư duy rất mới và đáng chú ý của Nghị quyết 19-NQ/TW là khi những dư địa tăng trưởng truyền thống ngày càng thu hẹp, thì tổ chức lại không gian phát triển và mở ra những không gian phát triển mới chính là tạo thêm nguồn lực, thị trường và động lực tăng trưởng mới cho đất nước.
Theo tôi, có thể nhìn nhận vấn đề này trên 4 phương diện. Đầu tiên là tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực sẽ giúp phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn. Thay vì phát triển tương đối dàn trải hoặc tập trung quá mức vào một số đô thị lớn, cần hình thành các cực tăng trưởng, vùng động lực, hành lang kinh tế và các trung tâm có khả năng dẫn dắt, đồng thời tăng cường liên kết giữa quốc gia - vùng - địa phương.

Đại biểu quốc hội Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai). Ảnh: Thu Hằng/Bnews/vnanet.vn
Khi hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng và hạ tầng số kết nối tốt hơn, nguồn lực sẽ được dịch chuyển tới nơi có khả năng tạo ra giá trị cao nhất, qua đó hình thành những chuỗi sản xuất và không gian kinh tế có quy mô lớn hơn.
Tiếp đến, cần phải khai thác mạnh hơn không gian biển và không gian ngầm. Việt Nam có lợi thế rất lớn về biển nhưng tiềm năng kinh tế biển còn nhiều dư địa. Không gian biển trong giai đoạn tới không chỉ là khai thác tài nguyên hay vận tải biển mà còn là cảng biển, logistics, đô thị biển, du lịch, năng lượng tái tạo, công nghiệp và các ngành kinh tế biển công nghệ cao.
Tương tự, không gian ngầm cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, nhất là tại các đô thị lớn. Phát triển giao thông ngầm, hạ tầng kỹ thuật, thương mại, dịch vụ và các công trình ngầm sẽ giúp chúng ta tạo thêm không gian phát triển mà không nhất thiết phải mở rộng diện tích đô thị, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Cùng đó, không gian số mở ra một dư địa tăng trưởng gần như không bị giới hạn bởi địa giới hành chính. Dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, thương mại điện tử và các dịch vụ số đang hình thành một không gian kinh tế hoàn toàn mới. Một doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thị trường toàn cầu mà không nhất thiết phải mở rộng tương ứng về nhà xưởng hay diện tích vật chất. Vì vậy, nếu làm chủ được dữ liệu, hạ tầng số và công nghệ, không gian số có thể trở thành một trong những không gian tăng trưởng có tốc độ nhanh nhất trong những năm tới.
Bên cạnh đó, một vấn đề rất đáng chú ý là việc xác định không gian tầm thấp như một không gian phát triển mới. Đây có thể là địa bàn hình thành nhiều ngành kinh tế mới gắn với thiết bị bay không người lái, vận tải, logistics, nông nghiệp, khảo sát, quan trắc, viễn thông, cứu hộ, cứu nạn và nhiều dịch vụ mới. Điều quan trọng là phải sớm xây dựng thể chế, hạ tầng và cơ chế quản lý phù hợp để vừa khai thác được giá trị kinh tế, vừa bảo đảm quốc phòng, an ninh và an toàn.
Ngoài ra, mở rộng không gian phát triển phải luôn gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền quốc gia. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng bởi những không gian mới như biển, không gian ngầm, không gian số hay không gian tầm thấp đều vừa là không gian kinh tế, vừa là không gian chiến lược về quốc phòng, an ninh.
Vì vậy, ngay từ khâu quy hoạch, xây dựng thể chế và đầu tư hạ tầng phải quán triệt yêu cầu kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; thiết kế theo hướng lưỡng dụng, vừa phục vụ phát triển trong điều kiện bình thường, vừa có khả năng đáp ứng yêu cầu quốc phòng, an ninh khi cần thiết.
Đặc biệt, với không gian số và không gian tầm thấp, cần sớm xác lập cơ chế quản lý, kiểm soát và bảo vệ chủ quyền phù hợp. Mở rộng không gian phát triển phải đồng thời là mở rộng năng lực quản trị, kiểm soát và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên các không gian đó.
Tôi cho rằng điểm mới trong tư duy ở đây là không chỉ tìm kiếm thêm nguồn lực trong những không gian đã có, mà chủ động kiến tạo những không gian phát triển mới.
Nếu trước đây nói đến nguồn lực phát triển, chúng ta thường nghĩ đến đất đai, vốn, lao động và tài nguyên, thì trong giai đoạn tới, biển, lòng đất, dữ liệu, không gian số và không gian tầm thấp cũng phải được nhìn nhận như những nguồn lực kinh tế quan trọng.
Vấn đề quyết định là phải có thể chế đi trước để xác lập quyền khai thác, phương thức quản lý, cơ chế đầu tư và bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với từng không gian. Khi đó, việc tổ chức lại không gian phát triển không chỉ giúp sử dụng tốt hơn nguồn lực hiện có mà còn mở thêm những “biên giới tăng trưởng” mới cho nền kinh tế Việt Nam trong nhiều thập niên tới.
* Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng): Đổi mới mô hình phát triển để khơi thông và nâng cao hiệu quả các nguồn lực
Theo tôi, tư duy đột phá nhất chính của Nghị quyết 19-NQ/TW là chuyển từ đổi mới mô hình tăng trưởng theo nghĩa chủ yếu là kinh tế sang đổi mới cả mô hình phát triển đất nước.
Nghị quyết không chỉ đặt vấn đề chúng ta sẽ sản xuất cái gì, đầu tư vào đâu hay tăng trưởng bằng động lực nào mà đi sâu hơn vào yêu cầu phải đổi mới phương thức tổ chức, quản trị và vận hành quốc gia để tạo ra năng lực phát triển mới. Mô hình được xác định là tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập; con người vừa là trung tâm, mục tiêu, động lực, vừa là chủ thể của phát triển.

Đại biểu quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng). Ảnh: Bích Hồng/Bnews/vnanet.vn
Tôi đặc biệt chú ý tới sự thay đổi tư duy về quản trị. Chương trình hành động của Chính phủ xác định chuyển từ quản lý hành chính nặng về tiền kiểm và kiểm soát sang quản trị phát triển dựa trên pháp quyền, dữ liệu, phân cấp, phân quyền, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.
Đây là thay đổi rất căn bản. Bởi chúng ta có thể có vốn, công nghệ, tài nguyên và con người, nhưng nếu thể chế không tạo điều kiện để những nguồn lực ấy kết hợp với nhau và chảy tới nơi có hiệu quả cao nhất thì tiềm năng vẫn chỉ là tiềm năng.
Vì vậy, nếu phải cô đọng tinh thần đột phá của Nghị quyết trong một ý, tôi cho rằng đó là: không chỉ tìm thêm nguồn lực cho phát triển, mà phải thay đổi cách tổ chức và vận hành để mỗi nguồn lực hiện có tạo ra giá trị lớn hơn.
Các chủ trương trước đây của Đảng đã nhiều lần đặt vấn đề đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh. Nghị quyết 19 kế thừa nhất quán những định hướng đó nhưng tiến thêm một bước quan trọng: đặt mô hình kinh tế trong một mô hình phát triển quốc gia tổng thể, gắn kinh tế với quản trị quốc gia, xã hội, văn hóa và con người, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Điểm nữa tôi cho rằng rất đáng chú ý là Nghị quyết không nhìn động lực tăng trưởng mới theo cách đơn giản là tìm thêm một vài ngành mới thay thế ngành cũ. Nghị quyết đang xác lập một hệ động lực mới.
Trước hết là khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là những yếu tố làm thay đổi trực tiếp năng suất và giá trị gia tăng của hầu hết các ngành kinh tế, chứ không chỉ tạo nên riêng một ngành công nghệ. Nghị quyết xác định lực lượng sản xuất mới trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng.
Thứ hai là những cấu trúc kinh tế mới như kinh tế số, kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế carbon thấp. Đây vừa là những không gian tạo giá trị mới, vừa là điều kiện để hàng hóa Việt Nam tiếp tục tiếp cận các thị trường ngày càng áp dụng tiêu chuẩn cao về môi trường và phát triển bền vững.
Cùng đó là các công nghệ và ngành công nghiệp chiến lược; trong đó có AI, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ xanh, năng lượng mới, sản xuất thông minh… Mục tiêu không chỉ là thu hút doanh nghiệp nước ngoài sản xuất tại Việt Nam mà cao hơn là từng bước nâng khả năng nghiên cứu, thiết kế, làm chủ công nghệ và tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị.
Song Song đó là tạo lập những không gian phát triển mới. Nghị quyết đặt vấn đề phát triển kinh tế biển, kinh tế không gian tầm thấp, không gian vũ trụ, không gian ngầm; đồng thời coi công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và sức mạnh mềm cũng là nguồn lực phát triển.
Như vậy, câu chuyện không phải là từ bỏ các động lực truyền thống, mà là nâng cấp chúng bằng công nghệ, tri thức, năng suất và sáng tạo, đồng thời mở thêm những không gian tạo giá trị mới.


