Nghị quyết 20-NQ/TW: Đầu tư công nghệ, liên kết chuỗi để nâng tầm nghề nuôi biển

Triển khai thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, An Giang xác định mục tiêu đến năm 2030 sẽ nâng tầm nghề nuôi biển phát triển theo hướng công nghiệp, hiện đại và ứng dụng công nghệ cao. Các khu vực trọng điểm như Kiên Hải và Phú Quốc sẽ trở thành trung tâm nuôi biển công nghiệp của vùng, khép kín chuỗi giá trị từ sản xuất giống, nuôi thương phẩm đến chế biến sâu và xuất khẩu. Mỗi lồng nuôi cá trên biển không chỉ đem lại sự thịnh vượng cho ngư dân mà còn là một "cột mốc xanh" khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng trên vùng biển Tây Nam Tổ quốc.

Những lồng nuôi cá đặt trong bè ven đảo Hòn Sơn, xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang (cũ) (nay là tỉnh An Giang). Ảnh: Văn Sĩ/TTXVN

Những lồng nuôi cá đặt trong bè ven đảo Hòn Sơn, xã Lại Sơn, huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang (cũ) (nay là tỉnh An Giang). Ảnh: Văn Sĩ/TTXVN

Trong định hướng phát triển kinh tế biển bền vững, tỉnh An Giang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, vừa tháo gỡ khó khăn, vừa thúc đẩy phát triển nghề nuôi cá lồng bè trên biển. Trước mắt năm 2026, tỉnh phấn đấu sản lượng thu hoạch đạt 20.000 tấn cá, đưa nuôi biển trở thành một trong những trụ cột quan trọng chuyển dịch cơ cấu sản xuất thủy sản từ khai thác tự nhiên sang nuôi trồng bền vững.

An Giang là một trong những tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long có vùng biển rộng với nhiều đảo và quần đảo, hệ sinh thái biển đa dạng, phong phú, là ngư trường có trữ lượng hải sản cao. Vùng biển An Giang diện tích hơn 63.290 km², bờ biển dài khoảng 200 km, với hơn 140 hòn đảo lớn nhỏ, có nhiều lợi thế để nuôi cá lồng bè, góp phần đưa kinh tế biển trở thành động lực phát triển của tỉnh.

Nuôi biển đang trở thành hướng phát triển quan trọng của ngành thủy sản An Giang. Mô hình này góp phần nâng cao giá trị gia tăng, tạo sinh kế và nguồn thu nhập ổn định cho ngư dân vùng ven biển và hải đảo.

Hiện nay, hoạt động nuôi biển của An Giang phát triển tập trung tại 3 đặc khu Kiên Hải, Phú Quốc và Thổ Châu, cùng các xã đảo, vùng ven biển như: Hòn Nghệ, Sơn Hải, Tiên Hải, Kiên Lương… Đối tượng nuôi chủ lực là các loài cá có giá trị kinh tế cao như: cá bớp, cá mú, cá chim vây vàng, cá chẽm… Trong đó, Phú Quốc và Kiên Hải được xác định là hai trung tâm nuôi biển cốt lõi của tỉnh nhờ có điều kiện tự nhiên ưu đãi, vùng nước kín gió và môi trường biển thuận lợi cho việc phát triển các mô hình nuôi lồng bè quy mô lớn.

Nghề nuôi cá lồng bè trên biển không chỉ giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động địa phương mà còn từng bước thu hút các doanh nghiệp lớn đầu tư. Thu hút doanh nghiệp "đầu tàu" và thúc đẩy liên kết chuỗi, tỉnh tạo điều kiện cho các đơn vị đầu tư nuôi biển công nghệ cao. Tỉnh đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 5 doanh nghiệp quy mô lớn với tổng diện tích gần 3.000 ha mặt nước biển. Trong đó, có 3 dự án hạt nhân gồm: Công ty TNHH Nuôi trồng và Xuất nhập khẩu Thủy hải sản Phú Quốc, Công ty TNHH Thủy sản Australis Việt Nam, Công ty TNHH Mavin Nam Du. Đồng thời, xây dựng các dự án tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp đầu tư phát triển nuôi cá lồng bè, khơi dậy tiềm năng nuôi biển quy mô công nghiệp.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang Lê Hữu Toàn chia sẻ, sự tham gia của các tập đoàn lớn là "cú hích" quan trọng giúp nghề nuôi biển thay đổi từ tư duy sản xuất nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp hiện đại, bền vững. Qua đó, góp phần chuyển đổi từ nuôi trồng quy mô nhỏ lẻ, tự phát của hộ gia đình sang mô hình nuôi biển công nghiệp tập trung, đặc biệt thúc đẩy sử dụng lồng nhựa HDPE chịu lực, hệ thống giám sát tự động và quy trình đạt chuẩn, giảm thiểu rủi ro dịch bệnh trong nuôi biển.

Dù tiềm năng rất lớn, nhưng ngành nuôi cá lồng bè trên biển của An Giang phát triển chưa tương xứng, vẫn còn nhiều rào cản, hạn chế, khó khăn như: Hạ tầng hậu cần chưa đồng bộ, chưa chủ động được con giống thả nuôi, khó tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi dài hạn, rủi ro do biến đổi khí hậu và dịch bệnh…

Bà Tô Diễm Thúy, người gắn bó hơn 20 năm với nghề nuôi cá lồng bè ở Hòn Tre, đặc khu Kiên Hải chia sẻ, từ năm 2023 gia đình bà được ngành thủy sản tỉnh hỗ trợ đầu tư một số lồng nhựa HDPE nuôi thí điểm cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với cách nuôi bằng lồng, bè gỗ như trước đây. Bà Thúy cũng như nhiều người nuôi cá lồng bè ở Hòn Tre mong muốn đầu tư lồng, bè nhựa HDPE để thay thế lồng, bè gỗ để nuôi cá, nhưng hầu hết người dân đều gặp khó do thiếu nguồn vốn đầu tư. "Tôi rất mong được ngân hàng hỗ trợ vốn vay ưu đãi, trả dài hạn để đầu tư chuyển đổi từ lồng bè gỗ sang lồng bè nhựa nuôi cá lồng bè hiệu quả hơn, phát triển bền lâu." - bà Thúy nói.

Tương tự, ông Nguyễn Thành Công, cùng ở đặc khu Kiên Hải cho biết, những năm gần đây do ảnh hưởng của thời tiết, sóng to, gió lớn nên lồng bè bằng gỗ truyền thống bị hạn chế độ bồng bềnh, ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi, nhất là mỗi khi thay đổi mùa gió việc di dời các bè cá rất khó khăn, cần nhiều nhân lực, tốn kém chi phí. Ông Công mong muốn được Nhà nước sớm có chính sách phù hợp hỗ trợ người nuôi biển tiếp cận nguồn vốn vay để đầu tư lồng bè nhựa HDPE cũng như tăng cường liên kết với doanh nghiệp cung ứng con giống gắn với thu mua, giúp người nuôi ổn định đầu ra, phát triển hiệu quả, bền vững.

Đưa nuôi cá lồng bè trở thành trụ cột kinh tế biển bền vững, Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang đang phối hợp với các địa phương triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ trọng tâm, quy hoạch và tổ chức lại không gian biển. Cụ thể là rà soát, sắp xếp lại các vùng nuôi lồng bè theo đúng quy hoạch phát triển nuôi biển của tỉnh. Từng bước thực hiện việc giao khu vực biển cho các tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản theo đúng quy định pháp luật. Việc tổ chức lại không gian nuôi giúp chấm dứt tình trạng nuôi tự phát, giải quyết chồng lấn không gian và bảo đảm hài hòa giữa phát triển sản xuất với bảo vệ môi trường, quốc phòng - an ninh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang Lê Hữu Toàn cho biết.

Mục tiêu đến năm 2030, nuôi cá lồng bè trên biển của An Giang sẽ bứt phá mạnh mẽ từ mô hình truyền thống nhỏ lẻ sang quy mô công nghiệp lớn. Tỉnh phấn đấu đạt 14.000 lồng nuôi biển, trong đó khoảng 6.600 lồng công nghệ cao, chủ yếu lồng chất liệu HDPE dẻo chịu sóng gió; sản lượng thu hoạch hơn 100.000 tấn.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, ngành chức năng tỉnh vận động và hướng dẫn người nuôi chuyển đổi từ lồng bè gỗ truyền thống sang các mô hình nuôi lồng bằng vật liệu mới HDPE. Vật liệu HDPE giúp chịu được sóng gió lớn, tăng độ bền và giảm thiểu rủi ro khi thiên tai diễn ra. Đồng thời, ngành thủy sản khuyến khích áp dụng thức ăn công nghiệp, nuôi đa loài, ứng dụng công nghệ giám sát môi trường nhằm hạn chế dịch bệnh và nâng cao năng suất.

Bên cạnh đó, để nghề nuôi cá lồng bè phát triển bứt phá và bền vững, An Giang kiến nghị Trung ương sớm ban hành cơ chế đặc thù về phát triển bền vững thủy sản, khuyến khích nuôi biển công nghệ cao, tín dụng ưu đãi và chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề cho ngư dân. Đồng thời, tiếp tục hỗ trợ nguồn vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụ nuôi biển như cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão và hệ thống quan trắc môi trường biển tự động. Cùng đó, tăng cường nghiên cứu, chủ động sản xuất nguồn giống cá biển chất lượng cao tại chỗ và chuyển giao rộng rãi công nghệ nuôi công nghiệp…

Lê Huy Hải (TTXVN)

Nguồn Tin Tức TTXVN: https://baotintuc.vn/kinh-te-bien-dao/nghi-quyet-20nqtw-dau-tu-cong-nghe-lien-ket-chuoi-de-nang-tam-nghe-nuoi-bien-20260822090757798.htm